Thursday, October 8, 2026

hải chiến hoàng sa, hộ tống hạm nhựt tảo, HQ 10, ngụy văn thà, nguyễn thành trí, lê văn tây

 

 

              HỘ TỐNG HẠM  NHỰT TẢO - HQ 1O  ĐI VÀO LỊCH SỬ

                                                                Thềm Sơn Hà

                                                                                                           Lời mở đầu:  bài viết trích trong cuốn sách ‘SỰ THẬT HẢI CHIẾN HOÀNG SA’ phổ biến năm 2015.

Tác giả đã nhận ra và sửa đổi một vài sai sót cũng như bổ túc một vài chi tiết từ tài liệu truy tìm trong thời gian gần đây.



Hơn hai tháng biệt phái công tác cho Vùng I Duyên hải, Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10 trở về Đà Nẵng sau chuyến tuần dương cuối cùng để bàn giao lại vùng trách nhiệm cho HQ 11 (Hộ tống hạm Chí Linh). Tất cả nhân viên chiến hạm đều vui mừng khi nghĩ đến lần trở về Sài Gòn sắp đến sẽ trùng hợp vào ngày tết Nguyên Đán. Họ sẽ có dịp gần gũi gia đình trong những giờ phút thiêng liêng của năm mới và cũng theo lời Hạm phó (HP) Nguyễn Thành Trí nói với phu nhân trước khi lên đường công tác thì chiến hạm sẽ chuẩn bị đi đại kỳ tại Guam sau khi trở về Sài Gòn [1].            


    
Ngoài ra với đồng lương mới lãnh, họ đi bờ ra phố Đà Nẵng mua sắm hàng hóa đặc biệt của địa phương để mang về làm quà Xuân cho gia đình và cũng là dịp những chàng lính thủy độc thân ra phố hưởng thụ những giây phút thoải mái sau những ngày dài lênh đênh trên trên biển.

Bất ngờ chiều 17/01/1974 chiến hạm nhận lịnh khẩn cấp cùng với Tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ 5 lên đường ra công tác Hoàng Sa (HS).                                              
Hạm trưởng (HT) HQ Thiếu tá Ngụy Văn Thà (k.12/SQHQ/NT) ra lịnh kéo còi nhiệm sở vận chuyển. Một vài nhân viên trở về lúc sợi dây cuối cùng vừa tháo, vội vàng nhảy xuống tàu, có người bị hụt chân rớt xuống nước phải thả phao vớt lên [2].         
Chiến hạm rời bến Đà Nẵng lúc 20:00H với tốc độ chậm để chờ HQ 5.      
Lúc 00:12H khuya ngày 18/01, HQ 5 bắt đầu tách bến và bắt kịp HQ 10 vào lúc 3 giờ 15 sáng.   
Trước tình trạng kỹ thuật của HQ 10 chỉ còn sử dụng được một máy và do nhu cầu hành quân khẩn cấp nên vào lúc 05:27H, HQ Đại tá Hà Văn Ngạc Sĩ quan Chỉ huy Chiến thuật đã quyết định chỉ thị HQ 5 tăng tốc độ, bỏ lại HQ 10 phía sau [3].

Trên đường đến HS, HT ra lịnh nhân viên kiểm soát tất cả mọi ụ súng, đem đạn tối đa từ hầm đạn lên các dàn súng nhưng tất cả các khẩu súng đều phải bao lại và nòng súng chỉa lên trời, HT khuyến khích tất cả các nhân viên không thuộc phiên đi ca cố ngủ để lấy sức cho những ngày kế tiếp. Ngoài ra ông ra lịnh mang lương khô để ở các nhiệm sở tác chiến và kiểm soát lại 4 bè cấp cứu cùng các hộp mưu sinh thoát hiểm. HT còn ra nghiêm lịnh bắt buộc tất cả nhân viên phải mặc áo phao và đội nón sắt mặc dù trời rất nắng và nóng bức [4] (đây là những chỉ thị rất sáng suốt của một cấp chỉ huy đầy kinh nghiệm, tiên liệu được những điều có thể xảy ra cho chiến hạm trong một trận hải chiến và cũng nhờ những nghiêm lịnh này mà các chiến sĩ HQ 10 trong lúc đào thoát đã có sẵn một số nước uống, thực phẩm khô để cầm cự trong thời gian đầu và áo phao đã giúp họ không bị chìm cũng như che chở bớt cơn lạnh về đêm).

HQ 10 đến HS vào khoảng 11 giờ đêm ngày 18/01. Hạm trưởng liên lạc với cấp chỉ huy trực tiếp là HQ Trung tá Lê Văn Thự (K.10/SQHQ/NT) HT Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 kiêm Chỉ huy trưởng Phân đoàn II (gồm HQ 10 và HQ 16), sau đó thi hành lịnh của Trung tá Thự, HT Thà ra lịnh làm tối chiến hạm (darken ship) để địch không nhận dạng được.

     Khoảng 01:00H khuya 19/01, chiến hạm nhận được lịnh hành quân từ Đại tá Ngạc. Sau khi hội ý với HP HQ Đại úy Nguyễn Thành Trí (k.17/SQHQ/NT), HT đã ở lại phòng vô tuyến phụ cạnh đài chỉ huy (ĐCH) để liên lạc với các giới chức liên hệ và chỉ thị HP họp các SQ và nhân viên tại phòng ăn SQ vào lúc 02:00H.

Trong buổi họp, HP Trí thông báo cho thủy đoàn HQ 10 biết là theo nội dung công điện hành quân thì chiến hạm sẽ chuẩn bị chiến đấu thực sự lúc 6 giờ sáng, HP cũng nhấn mạnh ở điểm là bên ta không được khai hỏa trước vì vậy phần thiệt hại về phía ta có thể lên đến 80% hoặc 90%.        
HQ Trung úy Nguyễn Đông Mai đặt câu hỏi về việc khai hỏa thì HP trả lời đây là lịnh từ Sài Gòn chúng ta phải thi hành theo lịnh. Cuộc họp chấm dứt vào lúc 02:30H [5].

Khoảng 4 giờ sáng, sau một giấc ngủ ngắn HT thức giấc và từ ĐCH ông ra lịnh kéo còi nhiệm sở tác chiến. Tiếp theo hồi còi.. tít..tít..tít..là tiếng của HT vang lên trong hệ thống âm thoại: “đây là HT … nhiệm sở tác chiến…nhiệm sở tác chiến…tất cả vào nhiệm sở tác chiến.”

Nghe tiếng còi và lịnh của HT tất cả nhân viên bật dậy và lập tức vào nhiệm sở của mình. Tiếp theo đó là nhiệm sở phòng không. Tất cả nòng súng rợp rợp hướng lên trời ở góc độ 45 độ [2].

Khoảng 4 giờ 30 có hai đóm sáng trên trời, tất cả các khẩu súng đều quay về hướng hai mục tiêu này.

Khoảng 5 giờ 30 hai đóm này lại xuất hiện.

Lúc 6 giờ hai đóm sáng này bay thấp hơn có lẽ là hai phản lực cơ [4]. (Trung tâm Hành quân BTL/Hải quân ghi nhận phi cơ lạ xuất hiện lúc 06:00H)

Sự xuất hiện liên tiếp của các phi cơ lạ tạo nên tình trạng căng thẳng cho tất cả các nhân viên trên chiến hạm, chắc hẳn mọi người ai cũng linh cảm rằng một cuộc hải chiến chắc sẽ xảy ra.

Rạng sáng ngày 19/01, thi hành lịnh Phân đội trưởng, HQ 10 cùng HQ 16 di chuyển đến vị trí Tây Bắc đảo Quang Hòa. Lúc này trời còn lờ mờ chưa tỏ ánh dương, lực lượng địch bây giờ được tăng cường thêm 2 chiếc Trục lôi hạm T 43 mang số 389, 396. Như vậy chúng có cả thảy 4 chiến hạm (2 chiếc Hộ tống hạm loại Kronstadt số 271, 274 đã xuất hiện từ trước) và 2 tàu đánh cá ngụy trang mang số 402, 407 đang hiện diện tại vùng, đối đầu với 4 chiến hạm của ta (kể cả Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 và Tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ 5 thuộc Phân đội I đang ở trong khu vực phía Nam và phía Tây Nam đảo Quang Hòa).

Chiến hạm ta và địch chạy đan qua đan lại nhau rất gần. Địch nhiều lúc như muốn đâm thẳng cả tàu vào chiến hạm của ta nhưng cả hai phía các khẩu súng đều chỉa lên trời [4].

Khoảng 06:30H, Đại tá Ngạc ra lịnh cho HQ 5 và HQ 4 đổ bộ toán Hải kích và Biệt hải lên đảo Quang Hòa. Lúc 08:30H, toán Hải kích vừa tiến vào bờ thì bị lính TC nổ súng trước, một Sĩ quan và một chiến sĩ bị tử thương.    
Đại tá Ngạc ra lịnh toán Hải kích mang xác vị Sĩ Quan và rút toàn bộ trở về HQ 5.

Nghe tiếng súng nổ, HT thông báo diễn tiến và ra lịnh tất cả nhân viên sẵn sàng. Ngay sau tiếng súng nổ trên đảo, chiến hạm của ta và TC không còn chạy gần nhau nữa mà bắt đầu tách ra xa.

Khoảng 9 giờ, các tàu TC trao đổi quang hiệu. Ngay tiếp sau đó các tàu đánh cá ngụy trang được 4 chiến hạm bảo vệ di chuyển song song về hướng Bắc và dần dần biến mất ở cuối chân trời. Mọi người trên chiến hạm thoáng vui mừng, ai cũng thở phào nhẹ nhõm nghĩ là TC đã chịu lùi bước rút lui. Phần Tr/úy Hà Đăng Ngân hơn ngày qua lúc nào thần kinh cũng căng thẳng, áo phao, nón sắt rất bực bội bây giờ được tạm cởi ra; vừa xuống phòng ăn cơm xong định đặt chân vào phòng tắm thì còi nhiệm sở tác chiến đột ngột reo inh ỏi, Tr/úy Ngân tức tốc chạy lên nhiệm sở, mặc lại áo phao, đội nón sắt vào [4].

Nhìn theo hướng chỉ trên ĐCH thấy có mấy vệt khói mỏng nơi cuối chân trời, rồi từ từ 4 chiến hạm TC đã rời vùng cách đây khoảng một tiếng quay đầu trở lại. Khi các chiến hạm TC tiến đến các chiến hạm ta chúng không đến gần như lúc sáng mà ở xa xa khoảng 1 km làm thành một vòng tròn bao quanh các chiến hạm ta. Sau khi chạy loang quanh chừng 2 vòng các tàu TC từ từ lảng xa ra hơn. Như tiên đoán trước được dấu hiệu khác thường HT ra lịnh chuẩn bị tác chiến nhưng tất cả nòng súng hướng vào phía đảo để tránh sự khiêu khích với tàu địch. Trông chờ mãi khẩu lịnh “bắn” vẫn chưa được ban hành, thủy thủ đoàn có phần xao lãng không còn vẽ hăng say như lúc đầu. Lợi dụng khoảng thời gian này, một số nhân viên ở các nhiệm sở luân phiên vào nhà ăn để dùng cháo cho buổi điểm tâm.

Khoảng 10 giờ, hai chiếc tàu TC mang số 389, 396 bắt đầu tách rời ra khỏi hai chiếc 271, 274 và chạy song song gần nhau. Như một kinh nghiệm chiến trường, HT ra lịnh hạ nòng súng và quay súng về phía tàu TC, vài phút sau hai tàu TC chạy gần sát vào nhau và thình lình cùng quay mũi song song trực chỉ HQ 10. HT ra lịnh tất cả ổ súng hướng về hai mục tiêu địch và xin lịnh cấp trên cho phép nổ súng nhưng được trả lời chờ Sài Gòn quyết định. Lúc này thần kinh tất cả mọi người thật căng thẳng.

Dù không nhận được phản lịnh hủy bỏ tác xạ lên đảo, khi tàu TC hung hăng từ từ tiến đến gần lúc chỉ còn cách HQ 10 khoảng 200-300m, HT hét lớn “bắn” [4]. 
Tất cả các khẩu súng trên tàu đều đồng loạt nhả đạn vào tàu địch. HQ 10 khai hỏa đầu tiên do lịnh của chính HT. Những phát đạn đầu tiên của HQ 10 trúng ngay vào chiếc 396, khoảng 11 viên đạn 76,2 từ HQ 10 đã xuyên thủng đài chỉ huy 396, phòng ngủ trên và dưới mặt nước, và trúng hầm đạn (Bài viết của TC khen ngợi 396 là chiếc chiến đấu can đảm nhất trong trận chiến cũng bị trúng đến 118 viên đạn từ 127, 76, 40 và 20 ly. Trong số này có 11 viên 76 ly và không rõ số lượng đại bác 40 và 20 ly từ HQ 10).

Cùng lúc, vì không nhận được lịnh thay đổi mục tiêu, khẩu 127 ly trên HQ 16 trực xạ vào chiếc 396 và chiếc này bị trúng đạn ngay ĐCH làm hư hệ thống tay lái nên tàu cứ xoay quanh.         
Đến lúc này HQ 10 vẫn an toàn, đạn từ tàu TC bắn tới đều bay qua đầu hoặc nổ trên mặt nước. Dù yếu thế vì chỉ có một máy khiển dụng gây bất lợi về tốc độ và khả năng vận chuyển, tuy nhiên dưới sự chỉ huy dũng cảm của HQ Thiếu tá Ngụy Văn Thà, HQ 10 đã tả xông hữu đột trong trận chiến.

Khi kho đạn 127 ly trước mũi HQ 16 bị trúng đạn thủng một lỗ và tiếp theo khẩu 127 bất khiển dụng, HQ 10 quay sang tiếp cứu HQ 16, tấn công cả hai chiếc 389 và 396. Khẩu 76,2 tác xạ chính xác vào chiếc 389 trúng sân sau, phòng truyền tin, phá hủy khẩu đại bác 37 ly, hầm đạn phát nổ ảnh hưởng đến máy phát điện bị tê liệt và hệ thống lái bất khiển dụng. Đợt tấn công này đã gây thiệt hại nặng cho 389.

Điểm cần nêu lên ở đây là so sánh về hỏa lực thì trục lôi hạm số 389 có phần trội hơn HQ 10 với 1 khẩu đại bác 85 ly trước mũi, 2 khẩu đại bác 37 ly sau lái (tương đương với đại bác Bofors 40 ly), 4 khẩu đại bác 25 ly và 4 khẩu đại bác 14,5 ly. Chiếc 396 trang bị tương tự 389 nhưng phía trước mũi là khẩu 37 ly đôi thay vì 85 ly. So sánh về kích thước 2 chiếc này tương đương với HQ 10, do đó địch đã áp dụng chiến thuật bám sát vào các chiến hạm ta để làm giảm đi sự hiệu quả của khẩu 127 ly trên HQ 16 và 76, 2 ly trên HQ 10.  
Đang chiếm ưu thế, bổng dưng khẩu 76,2 ly trên HQ 10 bị trở ngại tác xạ [7], (đây là lý do mà HT đã khẩn cấp gọi HP lên đài chỉ huy???) thêm vào đó chiến hạm lại chỉ có một máy khiển dụng, vì thế việc vận chuyển để sử dụng tối đa 2 khẩu đại bác 40 ly ở phía sân sau cùng một lúc rất là khó khăn. 
Ngay trong tình trạng bất lợi này, một hỏa tiển Styx rơi trúng ngay đài chỉ huy [8], tạo nên tiếng nổ thật lớn phá tung ĐCH và phòng lái. Hạm trưởng HQ Thiếu tá Ngụy Văn Thà, các Sĩ quan, Hạ sĩ quan và nhân viên ngành Giám lộ và Vận chuyển có mặt trên ĐCH và phòng lái đều hy sinh đền nợ nước ngoại trừ Hạm phó bị thương nặng nơi mặt, bụng và chân phải (mất một miếng thịt ở chân phải). Ngoài ĐCH và phòng lái, hầm máy và hầm đạn cũng bị trúng đạn bốc cháy. Đạn nổ văng tứ tung, lửa cháy bừng bừng khói đen tuôn mịt mù khắp con tàu.


Chiếc 389 bị trúng nơi hầm đạn, lỗ thủng hơi lớn làm nước tràn vào, ngoài ra máy phát điện cũng bị hư vì trúng đạn. Sau khi đã cố gắng vá xong lỗ thủng và sửa chửa máy phát điện, chiếc này quay trở lại tham chiến [6]. Từ vị trí cách HQ 10 khoảng vài trăm mét, quan sát HQ 10 đang ở trong tình trạng rối loạn, không bỏ lỡ cơ hội chiếc 389 của TC vận chuyển tiến vào phía sau lái hữu hạm HQ 10. Thấy tàu địch có ý định cặp vào một vài nhân viên hơi giao động nhưng 2 chiến sĩ Lê Văn Tây và Ngô Sáu vẫn ngang nhiên ghì chặt nòng súng làm tròn phận sự của mình [5] (Lúc này HQ 10 có khoảng trên 50 chiến sĩ đã hy sinh và bị thương nặng nhẹ, khoảng hơn 20 người còn khả năng chiến đấu).  

Với khoảng cách hơn 10 m, lính TC trên 389 ném lựu đạn, bắn súng tiểu liên, súng bazooka qua HQ 10 [6] với ý định thanh toán các ổ súng còn lại, sau đó sẽ cặp vào xua lính tràn qua chiếm đoạt tàu và bắt sống thủy thủ đoàn HQ 10.

               Sức công phá dữ dội của hỏa tiễn Styx đã phá tan ĐCH làm Đ/úy Trí rớt xuống phòng lái, tuy nhiên với dáng người to con, tướng vạm vỡ (cao 1,74 m - nặng 70 kg), mặc dù đang bị thương nặng nhưng đã cố gượng đứng lên. Đoán được ý định của giặc, từ phòng lái, Đ/úy Trí  giựt lấy khẩu M16 nhã hàng loạt đạn vào tàu địch [2] và sau khi đợi tàu địch vào đúng vị trí, Đ/úy Trí cố sức vận chuyển chiến hạm, lấy hết tay lái về bên phải, hướng mũi tàu HQ 10 đâm vào hông bên trái chiếc 389 của địch [6]
 (theo Ngụy Minh Sâm chỉ huy lực lượng TC thì HQ 10 đụng vô phía sau thân tàu 389 lúc 10:35H)

Quá bất ngờ trước hành động sáng suốt và quyết tử này, chiếc 389 không còn cách gì để vận chuyển tránh né khỏi nên đã bị phần mũi của HQ 10 đâm mạnh vào yếu điểm của chiến hạm là phần sau lái, tạo nên một vết nứt dài 3m sâu 1m.(http://www.mdc.idv.tw/mdc/navy/china/t43.htm)

Cú đụng mạnh này cộng thêm vào những hư hại do hỏa pháo của HQ 10 bắn trúng trong đợt khai hỏa đầu tiên đã đưa chiếc 389 lâm vào tình trạng nguy kịch, vì thế sau khi các chiến hạm ta triệt thoái, 2 tàu đánh cá ngụy trang 402, 407 và chiếc 396 được lịnh đến tiếp cứu, đưa 389 ủi vào bãi san hô trong khu vực đảo Quang Hòa, thủy thủ đoàn được chuyển qua tàu khác. Tiếp theo, kho đạn bị phát nổ, tàu tiếp tục cháy cho đến ngày 20/01 và bị chìm nhưng đã được vớt lên đưa về đảo Phú Lâm sửa chửa khẩn cấp, khoảng 1 tháng sau được kéo về lục địa sửa chửa tiếp.
Tuy nhiên vì bị thiệt hại quá nặng, không thể phục hồi tình trạng hoạt động nên 389 đã bị phế thải. (http://www.mdc.idv.tw/mdc/navy/china/t43.htm)

Sự kiện này đã được Kosh xác nhận: “Khi Kosh một lần nữa leo lên mái tòa nhà đài khí tượng, anh thấy chiến hạm nằm ngay hướng bắc đảo Duy Mộng phía trong lòng chảo vẫn còn cháy sáng.”         (tài liệu phỏng vấn G.Kosh ngày 15 tháng 5 năm 1974 của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ).         
HQ Đại tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư lệnh Hạm đội trong thời gian xảy ra hải chiến Hoàng Sa thuật lại: “Ông Kosh trong đêm đó đã nhìn thấy ngọn lửa trên biển về hướng các chiếc tàu.”     
(tài liệu phỏng vấn Đại tá Sơn ngày 16 tháng 7 năm 1975 do Hải quân Hoa Kỳ thực hiện).                      

Có thể nói đây là một chiến công thật hiển hách của anh hùng Nguyễn Thành Trí trước giặc thù Trung Cộng. Khi hỏa tiễn Styx rơi ngay ĐCH, ‘
chẳng may vị Hạm trưởng, con chim đầu đàn của chiến hạm đã hy sinh đền nợ nước’   [8a], HP Nguyễn Thành Trí nhận lãnh trách nhiệm quyền Hạm trưởng do Hạm trưởng HQ 16 kiêm Phân đội trưởng Phân đội II chỉ định ‘đã anh dũng đứng lên điều khiển chiến hạm lăn xã vào quân thù.’ [8a]          

Đang bị thương nặng, một mình đơn độc trên đài chỉ huy (Hạm trưởng và hầu hết các SQ và nhân viên trên đài chỉ huy và phòng lái đã hy sinh [9]), chiến hạm đang ở trong tình trạng nguy kịch, trong tình trạng khẩn trương Đ/úy Trí đã quyết định liều chết dùng con tàu làm vũ khí lợi hại chống lại kẻ thù.  Không những ông đã phá vỡ ý đồ cướp tàu, bắt sống thủy thủ đoàn và mang HQ 10 về làm chiến lợi phẩm của địch mà ngược lại còn gây thiệt hại nặng nề cho tàu địch.

Hành động này của Đ/úy Trí đã dẫn đến cái chết cho ông và 6 chiến sĩ trên HQ 10 trong lúc đào thoát, nhưng ngược lại đã bảo toàn danh dự cho Hải quân VNCH nói riêng và cho tổ quốc Việt Nam nói chung.


Vì cấu trúc của phần mũi HQ 10 rất chắc chắn nên sau khi đâm mạnh vào sau lái chiếc 389, phần sườn và võ tàu HQ 10 không bị hư hại thêm nhiều nhưng cả 2 máy lúc này hoàn toàn bất khiển dụng. Chiến hạm ta và địch từ từ tách ra xa. Tiếng súng đã lắng dịu. Trận hải chiến đang ở trong giai đoạn chấm dứt.
HQ 16 đang cố gắng bơm nước ra và sửa chửa máy phát điện, từ từ ra khỏi lòng chảo hướng về Đà Nẵng.
HQ 4 và HQ 5 rời vùng về hướng Đông-Nam.         
Chiến hạm địch đang tự cứu hoặc đến cứu giúp lẫn nhau. Do đó, mặc dù HQ 10 vẫn còn hiện diện tại vùng chiến nhưng đã không có một chiến hạm nào khác của TC đến gần để thăm dò hoặc bắn chìm.

Tình trạng HQ 10 lúc này quá bi đát, gần 70% nhân viên đã hy sinh kể cả Hạm trưởng, một số đang bị thương, phòng máy còn đang cháy, 2 máy chánh và máy điện hoàn toàn bất khiển dụng, hệ thống liên lạc nội bộ và máy truyền tin không sử dụng được.

Các nhân viên cơ khí bị cháy đen thui trong đó có Tr/úy Huỳnh Duy Thạch Cơ khí trưởng hai chân hầu như lìa khỏi thân mình, mặt mày cháy đen.

Đ/úy Trí từ ĐCH bò xuống sàn tàu. Trước tình trạng tuyệt vọng không được sự tiếp cứu từ các chiến hạm bạn, ngoài ra các chiến hạm địch cũng đang tự cứu lấy do đó không còn là mối đe dọa nữa. Có lẽ đây là lý do đã khiến ông ra lịnh đào thoát.

Khoảng 11:00H, với gương mặt đầy máu, Đ/úy Trí được hai nhân viên dìu đứng gần bè cấp cứu dõng dạc tuyên bố: “Hạm trưởng đã hy sinh, tôi thay mặt Hạm trưởng ra lịnh đào thoát.” [10]
Sau đó, Đ/úy Trí đã lết đến từng chỗ mà kéo vực các binh sĩ xuống bè đào thoát (trong số này có Tr/úy Phạm Văn Thì đang ở tại nhiệm sở thủ cây đại liên) [7]. Ngoài ra Đ/úy Trí chỉ định những nhân viên còn khỏe mạnh thả 4 bè cấp cứu cùng phụ giúp đưa những người bị thương xuống bè và chuẩn bị 1 bè nhỏ có 2 miếng ván kê lên để cho 2 chiến sĩ bị thương nặng là TS/VC Phạm Ngọc Đa và TS/TP Võ Văn Nam nằm lên. Có vài nhân viên nhảy xuống nước, sau đó leo lên bè [2] **

Khi tất cả nhân viên đã xuống bè, Đ/úy Trí với vết thương quá nặng, khắp người nhầy nhụa máu cương quyết ở lại chết cùng Hạm trưởng cùng nhân viên và chiến hạm nhưng hai nhân viên là Hạ sĩ TP Trần Ngọc Sơn và Thủy thủ TX Trương Văn Long đã cặp và lôi ông xuống bè [11].

Như vậy cuộc đào thoát đã được thực hiện từng giai đoạn, rất có kỷ luật và theo đúng truyền thống Hải quân.    
Quy
ề
n Hạm trưởng Nguyễn Thành Trí là người cuối cùng miễn cưỡng rời chiến hạm.    
Trong những giờ phút sau cùng quyền Hạm trưởng HQ Đại úy Nguyễn Thành Trí vẫn không quên những bài học về Hải quy trong hai năm thụ huấn nơi quân trường.


Khi tất cả nhân viên đã lên bè đầy đủ (có người nhảy xuống nước rồi mới lên bè), kiểm điểm lại có tất cả 28 người trong đó có những người bị thương nặng và nhẹ trên 4 bè lớn và 1 bè nhỏ, ngoại trừ các chiến sĩ đã hy sinh.       
Từ chối không xuống bè đào thoát, 2 chiến sĩ oai hùng là Hạ sĩ 1/VC Lê Văn Tây và Hạ sĩ/VC Ngô Sáu quyết ở lại tử chiến với giặc thù Trung Cộng và chết theo tàu. Chuẩn úy Ngưu trước khi đào thoát, đã gọi luôn cả HS1/VC Tây cùng nhẩy, nhưng anh khẳng khái trả lời:“Thôi, tôi ở lại ăn thua đủ với Trung Cộng. Chuẩn úy cứ nhẩy đi.” [2]

Tình trạng các bè rất bi thảm, bè nào cũng bị trúng đạn. Riêng bè của Đ/úy Trí bị bể một miếng lớn, khi 6 người ngồi lên, bè chìm xuống, nước ngập tới ngực. Dù bị thương nặng nhưng Đ/úy Trí vẫn còn tỉnh táo, ông bảo thủy thủ cố đưa 4 bè lại gần nhau rồi dùng những sợi dây chung quanh phao, cột chúng lại với nhau để cho tàu chạy ngang qua dễ nhìn thấy.

Luồng nước và gió từ từ đưa các bè xa dần HQ 10. Lúc này tiếng súng đã ngưng hẳn. Từ bè nhìn lại HQ 10 vẫn còn bốc khói. Tàu bị trúng đạn quá nhiều lỗ chỗ như tổ ong, về phía TC một chiếc cũng đang bốc cháy [4].

Tất cả mọi người đều hy vọng sẽ có chiến hạm bạn đến tiếp cứu nhất là HQ 16 cũng không xa lắm, nhưng khi nhìn thấy HQ 16 bị nghiêng một bên và đang từ từ chạy ra khỏi lòng chảo họ mới hiểu được lý do vì sao HQ 16 không đến vớt họ lên.

Gíó mùa Đông Bắc đưa các bè trôi theo hướng ra ngoài lòng chảo nhóm Nguyệt Thiềm và HQ 10 cũng đang trôi theo. Khoảng hơn một giờ sau các thủy thủ trên bè thấy có khói xuất hiện ở cuối chân trời, niềm hy vọng có tàu bạn đến cứu nhóm lên, nhưng khi đến gần thì ra là hai chiếc số 281, 282 loại Hainan của TC. Khi 2 chiếc này tới gần HQ 10 vào lúc 12 giờ 12 phút khẩu đại bác 20 ly do 2 chiến sĩ anh hùng Tây và Sáu ở lại tử thủ bắt đầu nổ vang, chiến hạm địch vừa tiến lại gần vừa phản pháo bằng đại bác 57 ly và các loại súng khác. Một hồi lâu sau tiếng đại bác 20 ly từ HQ 10 im bặt, HS1/VC Lê Văn Tây và HS/VC Ngô Sáu đã trúng đạn của giặc thù TC, hy sinh đền nợ nước một cách oanh liệt.



Không rõ thiệt hại nhân mạng trên 281 và 282, theo vi.wikipedia.org/wiki/Hải_chiến_Hoàng_Sa_1974, dựa trên tài liệu TC, thì 281 và 282 bị thiệt hại trung bình, điều này chứng tỏ là chỉ riêng 2 anh, cũng đủ làm địch khiếp sợ và đã gây hư hại cho chúng.  


Mặc dù không còn tiếng súng chống trả nhưng hình như vẫn chưa an tâm, tàu TC tiếp tục bắn xối xả vào HQ 10 trong khi đang bốc cháy và trôi lềnh bềnh cho đến 2 giờ 45 phút trưa thì chìm tại tọa độ 111° 35’48” và 16° 25’ 06” cách phía Nam đá Hải Sâm (Antelope reef) khoảng 2,5 km mang theo thân xác của Hạm trưởng Ngụy Văn Thà cùng 54 chiến sĩ anh hùng của HQ/VNCH.


Thanh toán HQ 10 xong, hai chiếc 281, 282 quay lại tiến gần đến các bè, HP Nguyễn Thành Trí dặn các nhân viên trên bè: “nếu bị bắt, bị đánh cũng đừng khóc, đừng van xin.” [4]
Tất cả đều hồi hộp không biết chúng sẽ hành động như thế nào? Chúng sẽ vớt họ lên bắt sống làm tù binh? Chúng sẽ bỏ mặc cho bè các anh tiếp tục trôi để chết lần mòn giữa biển khơi? Hay là chúng sẽ bắn vào bè để giết chết hết các anh …?


Cuối cùng, sau khi chạy quanh các bè khoảng 2 vòng, chúng vẫy tay cười rồi bỏ đi. Chúng đã chọn phương cách thật tàn nhẫn vừa khỏi phí đạn, vừa khỏi tốn công chăm sóc các anh theo luật tù binh quốc tế, vừa khỏi mang tiếng sát nhân vì chúng nghĩ là sớm muộn gì các anh cũng sẽ chết.

Hành động vô nhân đạo này của TC đã làm chết thêm 7 chiến sĩ của HQ 10. Nếu chúng thi hành đúng theo hiệp ước Geneva về tù binh thì khi các chiến sĩ HQ 10 được vớt lên chúng có nhiệm vụ phải chăm sóc cho họ và sẽ không có thêm 7 chiến sĩ của HQ 10 phải chết oan uổng trên đường đào thoát.

Sau khi tàu TC bỏ đi, các bè vẫn tiếp tục trôi và khi mặt trời bắt đầu lặn dòng nước đưa các bè lại gần một hòn đảo nhỏ. Đ/úy Trí ân cần dặn nếu lên được đảo thì phải đào hố để che gió cho ấm và kiếm nước uống, tuyệt đối không được uống nước biển sẽ chóng chết.

Các anh em cố gắng dùng tay và những mảnh ván nhỏ thế chèo nhưng vẫn không vào được gần đảo, dần dần các bè trôi ra ngoài khu vực lòng chảo. Càng về đêm gió càng thổi mạnh, sóng to đánh mạnh vào các bè làm chiếc bè trên đó có Đ/úy Trí và Tr/úy Ngân bị đứt giây tách ra khỏi nhóm. [4]     
Tất cả mọi người trên các bè đều lạnh run và mệt lả. Dù bị thương nặng nhưng Đ/úy Trí vẫn cố gắng giữ vẻ tỉnh táo, che dấu đi những nổi đau đớn do vết thương hành hạ. Tuy nhiên vết thương ở chân vì không được băng bó kỹ lưỡng nên vẫn còn rỉ máu vì thế cá mập cứ bám theo sau.    
Lo ngại về sự an toàn của đồng đội và có lẽ cũng biết là mình sắp chết nên Đ/úy Trí đã bảo thuộc cấp: “hảy thả tôi xuống biển, nếu không cá mập cứ bám theo, các anh cũng sẽ chết hết.” [12]    
Nhưng các anh em không thể nhẩn tâm đối với vị Hạm phó đã từng sống chết bên nhau nên họ làm ngơ. Cho đến khi đêm xuống, các anh em mệt nhoài ngủ thiếp đi thì cũng là lúc HQ Đại úy Nguyễn Thành Trí trút hơi thỏ cuối cùng đền nợ nước vào khoảng 2 giờ sáng ngày 20 tháng 1 năm 1974, sau khi đã làm tròn nhiệm vụ của một chiến sĩ HQ/VNCH cho đến phút cuối cùng. 
Các chiến sĩ đào thoát đã chờ đến lúc trời sáng để làm lễ thủy táng cho ông theo truyền thống Hải quân.

Ngoài Đ/úy Trí còn có 5 chiến sĩ bị thương trong trận hải chiến cũng đã hy sinh trên các bè đào thoát, danh sách trong tường trình ủy khúc số 121/ BTL/HĐ [13] gồm có :

1.- Hải quân Đại úy         Nguyễn Thành Trí     số quân: 61A702.714

2.- Trung sĩ 1/Giám lộ     Vương Thương          số quân: 64A700.777

3.- Trung sĩ/Vận chuyển  Phạm Ngọc Đa          số quân: 71A703.001

4.- Trung sĩ/Trọng pháo  Võ Văn Nam              số quân: 71A705.697

5.- Trung sĩ/Điện tử          Trần Văn Thọ            số quân: 71A706.845

6.- Trung sĩ/Quản kho      Nguyễn Văn Tuấn     số quân: 71A700.206

Với khoảng gần 4 ngày và 3 đêm trôi lênh đênh giữa vùng biển mênh mông trên các bè loang lỗ đầy vết đạn của giặc thù, nước uống và thức ăn không đủ để chia nhau phải dùng nước tiểu pha với nước biển để uống cầm cự. Họ đã sống giữa tuyệt vọng và hy vọng, giữa cái chết và cái sống, giữa những cơn đau đớn tận cùng do vết thương hành hạ, do thời tiết nghiệt ngã mang đến và nhất là nổi đau xót khi chứng kiến đồng đội người này tiếp nối người kia gục ngã trên bè, thân xác được thủy táng vào lòng đại dương. Nhưng hầu như tất cả mọi người lúc nào cũng chia sẻ với nhau, cũng nhường nhịn lo lắng cho nhau và cùng nhau cầu nguyện.


Công tác tìm kiếm và cứu vớt các chiến sĩ đào thoát.

Ngay trong ngày 19/01, trước tin sơ khởi báo cáo về cho biết có thể có 2 chiến hạm phía ta đã bị hỏa tiễn Styx của TC bắn chìm, chánh phủ VNCH đã 3 lần nhờ chánh phủ Hoa Kỳ trợ giúp trong việc tìm kiếm và cấp cứu (2 lần nhờ sự trợ giúp của các chiến hạm và 1 lần nhờ sự trợ giúp của các trực thăng thuộc Đệ 7 Hạm đội), nhưng lời yêu cầu này đã bị Đại sứ Martin khước từ [14].

Người bạn đồng minh từ bao năm nay đã lựa chọn thái độ không can dự vào các vụ tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo trong vùng Biển Đông, ngay cả việc giúp đỡ với mục đích nhân đạo.         
Thái độ này đã được thể hiện rõ rệt qua việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ yêu cầu Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Hải quân Hoa Kỳ đứng ngoài khu vực xung đột (ngày giờ chính xác của văn thơ này chưa được rõ).

Do vậy, nên ngay sau khi được tin chiến hạm HQ/VNCH đã nhận được lịnh khai hỏa, lúc 09:50H ngày 19/01 Tư lệnh Đệ thất Hạm đội HQHK lập tức gởi công điện ra lịnh cho các chiến hạm Hoa Kỳ tránh xa khỏi khu vực sắp giao chiến và tránh các hành động có thể được xem như là tham dự vào hay cung cấp sự yểm trợ cho miền Nam [15].

Đồng thời Tư lệnh Không quân HK Thái Bình Dương cũng ra lịnh cấm tất cả các phi cơ thuộc Không lực Hoa Kỳ bay trên không phận quần đảo HS ở bất cứ cao độ nào [16].

Nhật báo The New York Times ra ngày 19/01 có đăng lời Phát Ngôn viên Bộ Quốc phòng HK tuyên bố: “Chúng tôi không đứng về bất cứ phe nào.”        
Ngoài ra John F. King Phát Ngôn viên Bộ Ngoại giao HK phát biểu khi trả lời các câu hỏi: “Lẽ dĩ nhiên, chúng tôi hết sức mong muốn một sự dàn xếp êm đẹp”, nhưng “chúng tôi không can dự vào.”

Tuy nhiên, cũng không nên trách HK vì trong ngày 17/01, ĐS Martin đã thông báo cho Ngoại trưởng Vương Văn Bắc là ‘Dù trong bất cứ trường hợp nào quân đội Hoa Kỳ sẽ không can dự vào.’    
Tối ngày 20-1, Ngoại trưởng VNCH yêu cầu Đại sứ Martin chuyển đạt lời yêu cầu đến chánh phủ Hoa Kỳ để nhờ họ đề nghị với TC đồng ý hưu chiến trong 48 giờ, đủ thời gian để chánh phủ VNCH có thể di tản những người chết và bị thương ra khỏi quần đảo HS [17].

Lời đề nghị hợp lý và nhân đạo này đã không được chánh phủ HK chuyển đến Bắc Kinh.

Trước thái độ dửng dưng của HK, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sau khi cân nhắc lợi hại đã từ bỏ ý định dùng võ lực tái chiếm Hoàng Sa, ngay cả việc sử dụng phi cơ để oanh tạc trong ngày 21/01 cũng không thể thực hiện được. Vì vậy các giới chức thẩm quyền đã nghĩ ngay đến việc cứu cấp các chiến sĩ HQ 10 đào thoát trên bè sau trận hải chiến [18].


Trưa ngày 22/01 lúc 13:05H, TĐS/HK tại Sài Gòn đã gởi điện thư về BNG/HK báo cáo là vào buổi sáng, dinh Độc Lập, Bộ Ngoại giao và Đại tướng Cao Văn Viên Tổng Tham mưu trưởng QL/VNCH đã thông báo với họ là Chánh phủ Việt Nam cảm thấy bắt buộc phải mở ra cuộc hành quân không/hải để tìm kiếm những người hy vọng sống sót trên mặt biển trong khoảng giữa Hoàng Sa và Đà Nẵng [19].
Tiếp theo, lúc 13:31H, tòa Đại sứ gởi tiếp bản văn mới vừa được Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao VNCH phổ biến đến báo chí, nội dung bản văn loan báo cấp chỉ huy quân sự Việt Nam đang mở ra cuộc hành quân cứu cấp trong vòng 48 giờ để cứu vớt những người sống sót trên Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10, chiến hạm này đã được báo cáo mất tích sau trận hải chiến với Hải quân TC tại quần đảo Hoàng Sa [20].

Sáng ngày 22/01/1974, Tuần dương hạm Trần Quốc Toản - HQ 6*** và hai Tuần duyên đĩnh (WPB)       cùng 1 phi cơ C-119 của Không quân đã nhận được lịnh thi hành công tác tìm kiếm các chiến sĩ HQ 10 đào thoát trong khu vực giới hạn bởi các tọa độ:

• A. 15° 30’ 28” Bắc - 110° 00’18” Đông                      
• B. 14° 50’ 30” Bắc - 110° 40’27” Đông
• C. 15° 30’ 36” Bắc - 111° 10’00” Đông                      
• D. 16° 00’ 00” Bắc - 110° 40’48” Đông


(điện văn số 01000 nhóm ngày giờ R 220505Z JAN 74 TĐS/HK/SG gởi BNG/HK)

Giới chức thẩm quyền VNCH quan tâm đến số phận của thủy thủ đoàn HQ 10 mà lần sau cùng đã được thấy không người điều khiển gần đảo Vĩnh Lạc. Với dòng nước biển chảy bình thường sẽ đưa HQ 10 hoặc là nếu chiến hạm bị chìm sẽ đưa những người sống sót đến khoảng 70 hải lý về hướng Tây Nam của khu vực nằm trong các tọa độ A, B, C và D.

Đồng thời chánh phủ VNCH chỉ thị phái đoàn Việt Nam ở Geneva lập tức thông báo cho Hội Hồng thập tự Quốc tế những điều đã đề cập ở trên và yêu cầu hội thông báo Bắc Kinh về bản chất và phạm vi của cuộc hành quân, ngoài ra còn yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ sử dụng các phương tiện thông tin trực tiếp với Bắc Kinh trong nỗ lực để đảm bảo là Bắc Kinh cũng biết rõ về chiến dịch hoàn toàn có tính chất nhân đạo này.    

Về phần Đại sứ Martin, ông cũng khuyến cáo Bộ Ngoại giao Mỹ nên tiếp xúc với phái đoàn liên lạc TC ở Hoa Thịnh Đốn hoặc văn phòng Liên lạc Hoa Kỳ ở Bắc Kinh để yêu cầu TC thông báo đến các giới chức thẩm quyền quân sự của họ về chiến dịch này và Bộ Ngoại giao có thể chỉ thị phái đoàn Hoa Kỳ ở Geneva tạo điều kiện để phái đoàn Việt Nam tại Geneva và hội Hồng thập tự quốc tế gặp gỡ nhau [20].

Lời khuyến cáo của Đại sứ Martin đã được Ngoại trưởng Kissinger chấp thuận, vì vậy ngay sau đó Ngoại trưởng Kissinger đã gởi điện thư cho văn phòng Liên lạc Mỹ ở Bắc Kinh yêu cầu họ thông báo với Bộ Ngoại giao TC về cuộc hành quân cứu cấp này. Ngoài ra cũng giải thích cho Bắc Kinh biết là Mỹ làm việc này theo sự yêu cầu của chánh phủ VN và với tính cách nhân đạo, còn việc đề nghị Bộ Ngoại giao TC thông báo cho cấp chỉ huy quân sự TC là tùy ở Văn phòng Liên lạc [21].      

Trong khi các chi
ế
n hạm và phi cơ VNCH đang bắt đầu công tác tìm kiếm, vào lúc 6 giờ 30 chiều ngày 22/01/1974 tàu dầu Kopionella thuộc hảng Shell mang quốc tịch Hòa Lan đã tìm thấy và vớt tất cả 22 người thuộc HQ 10 còn sống sót lên tàu tại toạ độ 16° 10’N và 110°46’E, cách Đà Nẵng khoảng 287 km về hướng Đông.            
Như vậy toán đào thoát đã lênh đênh trên biển khoảng 78 giờ với khoảng cách độ 110 km [22].




Sau khi lên tàu, Thượng sĩ 1/TP Nguyễn Hồng Châu vì quá kiệt sức nên đã trút hơi thở cuối cùng, ngoài ra có 4 người bị thương nặng.           
Tất cả đã được  Thuyền trưởng, Thuyền phó và phu nhân của các vị này cùng thủy đoàn tàu dầu Kopionella tận tình chăm sóc. ****

 


        
Với tư cách Sĩ quan thâm niên hiện diện, HQ Trung úy Phạm Văn Thì đã được Thuyền trưởng đưa vào phòng riêng để liên lạc với cấp chỉ huy Hải quân VNCH.

Sáng ngày 23/01 lúc 5 giờ 15 tất cả đã được chuyển sang Tuần dương hạm Trần Quốc Toản-HQ 6 để đưa về Đà Nẵng.

Qua lời thuật lại của các chiến sĩ sống sót, cuộc hành quân cứu vớt tiếp tục sang ngày 23/01 với hy vọng tìm thấy bè bằng cây trên đó có TS/VC Đa và TS/TP Nam.        
Đến 6 giờ 15 phút chiều cùng ngày phi cơ tuần tiễu đã phát giác hai mảnh ván tại tọa độ 15°43’Bắc-110°02’Đông, khi chiến hạm được điều động đến nơi mọi người đều thất vọng vì chỉ thấy 2 miếng ván không người.

Cuộc hành quân tìm kiếm và cấp cứu đã được chấm dứt ngay sau đó. [23] 
Cuối cùng, trong số 28 chiến sĩ đào thoát trên 4 bè lớn và 1 bè nhỏ, 6 người bỏ mạng đưới lòng đại dương, 1 người chết trên tàu dầu Hòa Lan, chỉ còn 21 người sống sót:         
           
1.-   HQ Trung úy Phạm Văn Thì  (k. 20/SQHQ/NT)

2.-   HQ Trung úy Nguyễn Đông Mai (k.25/SQ/VBĐL)

3.-   HQ Trung úy Hà Đăng Ngân (k.8 OCS)

4.-   HQ Trung úy Ngô Văn Hòa (k.1/70 ĐB)

5.-   HQ Thiếu úy Phạm Thế Hùng (k.24/SQHQ/NT)

6.-   HQ Chuẩn úy Tất Ngưu (k.1/IOCS)

7.-   Trung sĩ Bí thư Võ Văn Bằng

8.-   Trung sĩ Tiếp vụ Đỗ Kim Hoàng

9.-   Hạ sĩ 1 Trọng pháo Nguyễn Văn Tám                

10.- Hạ sĩ Trọng pháo Trần Ngọc Sơn

11.- Hạ sĩ Trọng pháo Phạm Văn Lợi

12.- Hạ sĩ Trọng pháo Võ Văn Tuấn     

13.- Hạ sĩ Trọng pháo Lê Tấn Hưng

14.- Hạ sĩ Trọng pháo Vương Văn Hà

15.- Hạ sĩ 1 Cơ khí Lưu Tố Nữ                                                     

16.- Hạ sĩ Cơ khí Nguyễn Hồng Cứng

17.- Hạ sĩ Cơ khí Huỳnh Văn Hòa

18.- Hạ sĩ Tiếp vụ Nguyễn Văn A

19.- Thủy thủ 1 Cơ khí Trần Văn Hà                                              

20.- Hạ sĩ Bí thư Đỗ Văn Thành                                                   

21.- Thủy thủ 1 Thám xuất Trương Văn Long.         
           
NHẬN XÉT VỀ TRÁCH NHIỆM TIẾP CỨU HQ 10.
Nhiều viên chức cao cấp trong giới quân và dân sự VNCH đã lên tiếng chỉ trích Hoa Kỳ từ chối lời yêu cầu cứu vớt chiến sĩ HQ 10 đào thoát.      
Tuy nhiên nếu xét kỹ, trách nhiệm cứu vớt HQ 10 phải là trách nhiệm của chánh quyền và quân đội VNCH trong đó có Hải quân và Không quân.    
Nhưng tiếc thay, phản ứng của các cấp chỉ huy trực tiếp trong và sau trận chiến đã làm trì hoãn cuộc tiếp cứu và đã làm gia tăng thương vong.

Dẫn chứng trung thực từ nhật ký TTHQ/HQ đã được xác nhận qua tài liệu THNK/HQ/THĐ 47 công bố trong tháng 1-2019 cho thấy là HQ 5 và HQ 4 di tản khỏi vòng chiến lúc 11:00H trong lúc đó HQ 4 báo cáo phát hiện các chiến hạm tăng cường của TC lúc 11:53H (HQ 4 báo cáo 3 Komar, nhưng thật ra đây là 2 chiếc 281, 282 thuộc loại Hainan).    
            Phúc trình của HQ 5 và bài viết THĐ 47 năm 2004 cả hai đều cho là HQ 4 và HQ 5 rút ra khỏi vòng chiến lúc 11:00H với lý do ‘quan sát thấy chiến hạm TC nghi ngờ là Komar đến tiếp viện.’ Ghi nhận này không ngoài mục đích hợp lý hóa cho quyết định rút lui khỏi vòng chiến của Đại tá Ngạc.       
Như vậy, thay vì lúc 11:00H ra lịnh HQ 4, HQ 5 di tản về hướng Tây Nam, Đại tá Ngạc nếu nhận định tình hình một cách chính xác, vẫn còn đủ thời gian quay lại tiếp cứu các chiến sĩ đào thoát từ HQ 10 vì HQ 4 báo cáo HQ 10 bắt đầu nhiệm sở đào thoát lúc 11:00H.

 Vị trí HQ 5 lúc 11:00H chỉ cách HQ 10 khoảng 8 hải lý, do vậy HQ 4 và HQ 5 vẫn còn khoảng 30 phút để thi hành công tác cứu vớt vì đến 12:12H hai chiếc 281 và 282 mới đến vị trí HQ 10.
Tháng 1/2019, Đại tá Khuê phổ biến thêm một số tài liệu của Ủy ban Nghiên cứu Hải chiến Hoàng Sa trong đó kết luận của Ủy ban xác định rõ trách nhiệm của Đại tá Ngạc:



Kết luận của Ủy ban dù ngắn gọn nhưng đã cho thấy 4 điểm quan trọng:
• Thứ 1: Đại tá Ngạc không theo dõi chính xác diễn tiến hoạt động của các phân đoàn.
• Th
ứ 2: Đại tá Ngạc không điều động để yểm trợ hỗ tương giữa các phân đoàn.
• Th
ứ 3: Chiến trận dứt, có nghiã là không còn đe dọa nào về phía địch.
• Th
ứ 4: Mặc dù chiến trận dứt, tuy nhiên Đại tá Ngạc không thực hiện công tác tiếp cứu các đơn vị và nhân viên lâm nạn ngay sau đó.
         
Ngoài ra trong phần Thuyết trình của Tiểu ban Chiến thuật cũng nêu ra khuyết điểm tương tự nhìn nhận trách nhiệm của chính Hải quân trong việc cứu vớt nhân viên đào thoát từ HQ 10 và từ toán nhân viên HQ 16 đào thoát từ đảo Vĩnh Lạc.(trang 335/TTHS/2018).

 

Hai kết luận trên của Ủy ban Nghiên cứu Hải chiến Hoàng Sa do Đề đốc Lâm Ngươn Tánh Tư lệnh phó Hải quân làm Chủ tịch đã xác định người chịu trách nhiệm tiếp cứu không ai khác hơn ngoài Đại tá Ngạc.

Không những thế, HQ 4 và HQ 5 còn có cơ hội đưa HQ 10 lên bãi cạn đảo Hoàng Sa hoặc Cam Tuyền.
Trong trường hợp này HQ 4 và HQ 5 bắt buộc phải ở lại vùng ngoài ra các chiến hạm tăng phái đang trên đường do vậy TC sẽ rất dè dặt khi quyết định tấn công chiếm trọn nhóm Nguyệt Thiềm.

 

Và nếu như HQ 4 và HQ 5 đã bỏ lỡ cơ hội tiếp cứu HQ 10 ngay lúc họ đang đào thoát, vẫn còn cơ hội thứ hai là HQ 11 và 3 WBP khi đến vùng trong chiều ngày 19/01, nhưng thật khó hiểu vì sao lịnh tìm kiếm các chiến sĩ HQ 10 đang trôi dạt trên các bè lại không được thi hành???????


Tại sao Hải và Không quân VNCH không làm được???? Tại sao không ra lịnh HQ và KQ cấp tốc tìm kiếm các chiến sĩ HQ 10 đào thoát mà phải chờ đến sáng ngày 22 tháng 1 năm 1974.
Công tác tìm kiếm được tổ chức và phối hợp ra sao để rồi cuối cùng các chiến sĩ đào thoát tình cờ lại được tàu dầu Hòa Lan vớt lên!       

                     Để kết luận, trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974 như là một định mệnh đã sẵn dành cho Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10 một chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử chống ngoại xâm để gìn giữ cõi bờ hùng vĩ do tổ tiên truyền lại.        
HQ 10 đã tạo nên chiến công hiển hách trong trận hải chiến, mặc dù chỉ có một máy khiển dụng và vũ khí yếu kém nhưng chính HQ10 đã gây thiệt hại nặng nề cho chiếc 389 về nhân mạng cũng như vật chất.
Tuy mất Hoàng Sa nhưng gương sáng về những sự hy sinh cao qúy, về tinh thần chiến đấu cao độ, liều chết tử thủ trước giặc thù, về những lời nói đầy hùng khí ngay cả khi lâm vào tình thế nguy khốn sẽ mãi mãi được nhớ đến trong lịch sử oai hùng ngàn đời của con dân nước Việt.

             
               Xin cho một lần tất cả những người dân nước Việt, không phân biệt Nam, Trung, Bắc không phân biệt lý thuyết, chủ nghĩa hãy cúi đầu khâm phục tinh thần bất khuất và sự hy sinh cao cả của 55 chiến sĩ HQ 10 đã hy sinh tại chiến trường, 7 chiến sĩ hy sinh trên đường đào thoát cũng như 21 chiến sĩ còn lại đã thoát chết trong lúc chiến đấu với giặc thù, đã sống sót trong 3 đêm và gần 4 ngày gian khổ cùng cực trên biển khơi.

Các anh còn sống để có ngày chứng minh cho cả thế giới biết sự chiến đấu hào hùng của dân Việt cũng như sự nhẫn tâm của giặc thù Trung Cộng.  
                                                              **************************

Chuyện bên lề: Trong bài “Nhật ký bên lề trận hải chiến Hoàng Sa”, HQ Đại tá Võ Sum TP6/BTL/HQ          
(Phòng Truyền tin) đã viết là vì muốn biết số phận cuả HQ 10 nên trong ngày 20 tháng 1 ông đã dùng     
phương pháp cảm xạ học để tìm vị trí của chiến hạm xấu số này.

Ông đã tiên đoán số phận HQ 10 “không bao giờ trở lại” và các bè trôi theo hướng 240 độ thật là chính xác.     
Vị trí cuối cùng của các bè đào thoát do ông tìm được lần sau cùng vào lúc 10 giờ đêm ngày 22 tháng1 ở tọa      
độ 16°17’ Bắc và 110°58’ Đông.

Ngoài ra cũng theo bài viết thì chính HQ Trung tá Lê Thành Uyển đã thiết lập khu vực tìm kiếm cho các  
chiến hạm và phi cơ.

Phần dẫn chứng

 1.- Tài liệu về phiá Trung Cộng:

http://military.china.com/zh_cn/history2/06/11027560/20050707/12465030.html
- Trong bài viết “Hải chiến Tây Sa ngày 19 tháng1 năm 1974” tác giả người Trung Hoa đã diễn tả về        chiếc 389 như sau: “….chiếc 389 bị trúng đạn nước tràn vào trong hầm đạn dược…..ngoài ra 5 binh sĩ cũng hy sinh trong lúc sửa lại máy phát điện. Tất cả thủy thủ chiếc 389 chiến đấu một cách dũng cảm ném từng quả lựu đạn, sử dụng súng tiểu liên, súng bazooka bắn qua chiếc HQ 10 gần sát đó. Hạm trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh trong trận chiến xáp lá cà này.


Lúc bấy giờ chiếc HQ 16 trở lại giao chiến với chiếc 389 để tiếp cứu chiếc HQ 10 đang cháy bừng bừng. Đại úy Nguyễn (ám chỉ Nguyễn Thành Trí) trên chiếc HQ 10 thay thế Thiếu tá Thà đã hy sinh, dốc toàn lực định húc ngay phía sau chiếc 389 thì chiếc 396 đến kịp để cản trở chiếc HQ 16 yểm trợ cho chiếc 389 thoát hiểm…12 giờ 12 phút, phân đội 74 nhận lịnh công kích, chiến hạm 281 bắn xối xả lên chiến hạm Nhật Tảo, tuy thủy thủ đoàn chiến hạm Nhựt Tảo chống trả mãnh liệt, đến 14 giờ 52 phút chiến hạm Nhựt Tảo chìm tại địa điểm phía nam đá Linh Dương (Đá Hải Sâm – Antelope reef) cách 2,5 cây số.
”

 
Ngoài ra bài này đã viết về chiếc 389 sau khi bị HQ 10 đụng vào phía sau lái: “…chiến hạm số 389 của ta có hơn 10 người chết, đã bị chiến hạm VNCH bắn trúng nhiều lần và bị thiệt hại rất nặng. Khi chiếc 396 chạy đến cứu, hầm máy chiếc 389 đã bị phát nổ, lửa đang cháy lớn, tàu có thể bị chìm bất cứ lúc nào. Hai chiếc tàu đánh cá số 402 và 407 cũng đang bị tấn công nhưng đã cố sức chạy đến cứu và cuối cùng đã thành công đưa chiếc 389 ủi vào bãi.

Ba chiến hạm khác của ta tất cả đều hư hại, chiếc 274 bị thiệt hại rất nặng phải rởi khỏi vùng trở về đảo Phú Lâm, tại đây chiếc này đã được sửa chửa và đã trở lại căn cứ hải quân Yulin ngày hôm sau.”


Theo tài liệu trên, 2 tàu đánh cá 402, 407 có lẽ bị thiệt hại ít, chờ cho đến khi các chiến hạm ta rút ra khỏi vòng chiến chúng mới dám chạy đến yểm trợ để đưa 389 ủi vào bãi san hô tránh chìm, nếu không chiếc 389 sẽ chịu chung số phận như HQ 10.

Ngoài ra, dựa trên bài viết (http://www.mdc.idv.tw/mdc/navy/china/t43.htm), chiếc 396 ít hư hại nhất được chỉ định trở lại hợp lực cùng hai tàu đánh cá 402, 407 tiếp cứu 389 đang bị cháy.


Tài liệu http://military.china.com/zh_cn/history2/06/11027560/20050707/12465030.html có một phần trong bài đã viết gần đúng sự thật. Đoạn viết này đã cho thấy vài sự kiện rất quan trọng và từ đó sau khi kiểm chứng và tổng hợp với các tài liệu từ phiá VNCH ta có thể làm sáng tỏ một vài sự kiện mà từ trước đến nay chưa giải thích được, ngay cả các nhân chứng còn sống sót trên HQ 10 cũng không biết về các hành động rất dũng cảm và oai hùng của các chiến sĩ trên chiến hạm của mình:

          • Điểm thứ nhất bài viết đã xác nhận là chiếc 389 đã tiến sát vào HQ 10 qua việc chúng ném lựu đạn, bắn súng tiểu liên.

          • Điểm thứ 2 là vì tiến vào quá gần nên chúng đã quan sát thấy HT Ngụy Văn Thà đã tử trận.

          • Điểm thứ 3 là vì ở quá gần nên chúng đã quan sát thấy HP Nguyễn Thành Trí dốc toàn lực định húc ngay phiá sau chiếc 389.

          • Điểm thứ 4 là chúng đã công nhận khi 281 và 282 nhập vùng tác xạ vào HQ 10, thủy thủ đoàn trên HQ 10 đã chống trả mãnh liệt.


Đ
iều này chứng tỏ là chính hai chiến sĩ Lê Văn Tây và Ngô Sáu đã can trường liều chết tử thủ, chống trả dữ dội khiến chúng không dám xáp lại gần, vì thế phải mất hơn 2 tiếng đồng hồ chúng mới đánh chìm HQ 10.           
         
Bài viết này và một số bài viết khác của tác giả TC dĩ nhiên là không hoàn toàn đúng sự thật vì không có can đảm viết rõ là HQ 10 do chính Đại úy Trí điều khiển đã đâm mạnh vào phần lái tả hạm và đã gây nên tổn thất nặng nề cho chiếc 389. Nếu 389 không bị đụng thì tại sao chúng lại bỏ cơ hội hiếm có để đổ bộ lên chiếm đoạt HQ 10 và tại sao tàu lại bị nghiêng và phần lái bị chìm xuống. Tại sao 2 tàu đánh cá 402 và 407 phải chạy đến để tiếp cứu? (hình chụp chiếc 389 trích trong www.military.china.com)


Phi tiễn đĩnh Komar và hỏa tiễn Styx

Như đã chứng minh trong bài “Lực lượng Trung Cộng trong biến cố Hoàng Sa” thì TC đã điều động 4 Komar đến Hoàng Sa trước khi giao chiến nhưng không bị phát giác và vì thiếu nhiên liệu nên chúng không tham chiến. Tuy nhiên chúng vẫn được đặt trong tình trạng báo động và rình rập chờ cơ hội.
HQ 10 nằm trong mục tiêu của Styx, chúng liền lập tức khai hỏa (theo sự quan sát của G.Kosh thì khoảng cách giữa Komar và HQ 10 độ chừng 13 km).  
Bài viết của TC về tình hình trước khi HQ 10 bị trúng hỏa tiễn:      
“Khi đó, tàu “Sóng Dữ” lao tới, bắn thọc đằng sau lưng biên đội của ta. Thế cục thay đổi trong nháy mắt, khiến cho tàu 389 bị quân địch tấn công từ hai phía bốc cháy nhiều chỗ.” Và đoạn viết tiếp theo:     
“Mặc dù đã trúng đạn đầy mình, nhưng tàu 389 vẫn ép sát tàu địch, các chiến sĩ trong tình thế nguy cấp đã ôm luôn cả bệ phóng rocket, xách luôn cả súng tiểu liên, tay cầm lựu đạn, đúng là một trận đánh dũng mãnh, đã xảy ra một trận “đấu lưỡi lê trên biển” hiếm thấy trong lịch sử các cuộc hải chiến, quả là một trận xáp mạn tàu khiếp vía kinh hồn! Thuyền trưởng tàu “Sóng Dữ”, thiếu tá họ Ngụy [Văn Thà] đã mất mạng trong trận chiến trần trụi bằng lưỡi lê trên biển này.” [24]    

Đoạn tiếp theo đã chứng tỏ là TC đã vẽ vời thêm, vì nếu không bị hỏa tiễn phá tung đài chỉ huy và phòng lái thì 389 đâu thể nào dễ dàng tiến sát lại HQ 10 và chỉ có đầu đạn nặng 500 kg mới có thể tạo nên “đám khói màu xám đậm và tiếng nổ rất lớn” như Kosh diễn tả.


Xác định về sự đụng nhau giữa HQ 10 và chiếc 389

1.- Trong thời gian gần đây đã có vài tài liệu về phía TC chứng minh cú đụng này:

-Trong cuốn sách “Chinese warfighting: The PLA experience since 1949” edited by Mark A. Ryan, David Michael Finkelstein, Michael A. McDevitt xuất bản April 2003, trong chương 11 với tựa đề “The PLA Navy at war, 1949-1999” tác giả Alexander C. Huang đã xác nhận  trong đoạn viết ngắn về trận hải chiến HS “…một tàu trục lôi đã đụng với hộ tống hạm Việt Nam, có lúc thủy thủ Trung Cộng dùng lựu đạn ném tay và súng trường trong lúc tác chiến gần.”

-Trong website http://bbs. nynews.gov.cn/archiver/tid-180120.html đã viết rõ: “lúc 10 giờ 35, HQ10 đụng vào phần lái chiếc 389 khiến chiếc này không còn điều khiển được nữa.”

2.- Tài liệu về phiá VNCH:

 Về việc HQ 10 đụng mạnh vào tàu TC, một số bài viết về phía VNCH như “Hải Chiến Hoàng Sa” của HQ Đại tá Phạm Mạnh Khuê đăng trong HSTT [25] và bài viết “Lần đào thoát ở Hoàng Sa” của HQ Trung úy Nguyễn Đông Mai [5] cho là chiếc 396 của TC đụng vào HQ 10, nhưng dựa theo các tài liệu TC thì đây là chiếc 389 trùng hợp với Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa của Vũ hữu San & Trần đỗ Cẩm.

Hà Đăng Ngân trong “Hoàng Sa và HQ 10” viết: “…Vài phút sau mục tiêu 2 cũng bốc khói, mục tiêu 1 tuy còn chút khói bốc lên, chạy trở vào gần HQ 10, bắn trả lại HQ 10 và HQ 10 bắt đầu trúng đạn của tàu Trung Quốc…” [4]

Tuy không nhớ rõ số của mục tiêu 1 và mục tiêu 2, nhưng qua bài viết của TC ta có thể suy ra mục tiêu 1 là chiếc 389 và mục tiêu 2 là chiếc 396.


Các bài viết của các SQ và nhân viên còn sống sót trên HQ 10 đã xác nhận sự kiện một chiến hạm TC đụng vào HQ 10 và ý định của chúng định cặp vào đổ bộ lính qua HQ 10 mặc dù con số chiến hạm có khác đi. HQ Tr/úy Nguyễn Đông Mai trong bài “Lần đào thoát ở Hoàng Sa” đã viết: “…chiếc 396 như tiến lại gần tôi hơn từ phía lái…rồi chừng 15 phút sau, một tiếng va chạm mạnh làm chúng tôi té nhào trên sân tàu. Tôi chợt nghĩ đến chuyện tàu lên cạn vì vùng này có nhiều san hô. Sau này khi đào thoát tôi mới biết HQ 10 đâm vào tả hạm chiếc 396.”

HQ Ch/úy Tất Ngưu đã cho thấy một sự kiện hiển nhiên là chiến hạm của chúng tiến vào quá gần và các chiến sĩ trên HQ 10 có cảm tưởng là chúng sẽ cặp vào để đưa lính sang chiếm tàu, bài “Trận hải chiến Hoàng Sa dưới mắt một người còn sống sót” đã viết như sau:

(…Có giọng nói giữa đám anh em đang hỗn loạn: “tàu TC đổ bộ, anh em cẩn thận”. Một loạt đạn M16 túa bay ra từ đài chỉ huy. Nhìn phía trước, tôi thấy mũi tàu của ta đâm vào tàu địch. Thế rồi hai tàu từ từ dang ra. Tàu ta bất khiển dụng cả hai máy chánh, cứ vậy mà trôi lênh đênh.

Sau khi hai chiếc tàu đụng nhau, tiếng súng lớn dường như im bặt, chỉ còn nghe những tiếng súng nhỏ. Giai đoạn hải chiến hình như chấm dứt.) [2]

Hạ sĩ Trọng pháo Vương Văn Hà qua bài “Người về từ Hoàng Sa” đã xác nhận cú đụng này: “…HQ 10 bị bất khiển dụng khiến cho tàu địch đã bị bắn ở phía tả hạm đụng vào tàu chúng tôi.” [10]

Và trong HSTT: “….tuy chiến hạm đang cháy nhưng vẫn tiến từ từ, sau đó ngừng lại khi đụng vào lái tàu địch 396….”

Trong bài viết “HQ 16 và trận hải chiến Hoàng Sa” HQ Đại úy Đào Dân khi nhìn lại vùng chiến trận một lần cuối đã ghi nhận: “…. HQ 10 vẫn bình yên nằm như trong tình trạng thả trôi trong một vùng nước lặng gió, và bên cạnh, một chiếc tàu Trung Cộng cũng trong tình trạng tương tự nằm song song bên nhau như đôi bạn đời tri kỷ chưa có một lần thù hận…”

 Thủy thủ 1/CK Trần Văn Hà đã thuật lại trên báo Tuổi Trẻ ngày 6/01/2014 "Sau cú đâm thẳng vào trục lôi hạm 389 Trung Quốc, máy hộ tống hạm HQ 10 Nhật Tảo hoàn toàn bất khiển dụng, và các khẩu pháo chính cũng hư hỏng. Đại úy Trí máu ướt đẫm quần áo, ngậm ngùi phát lệnh rời chiến hạm.”     

Qua các dẫn chứng trên đã chứng minh một sự thật hiển nhiên là HQ 10 và chiếc 389 không phải vì đã:  “…trôi nổi không kiểm soát được trên mặt biển, đã đụng vào nhau” như trong Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa đã viết mà cú đụng này là do chủ ý của Đại úy Trí đã đơn độc vận chuyển chiến hạm liều chết hy sinh cả chiến hạm và mạng sống đâm mạnh vào phần lái tàu địch.

Khi hỏa tiễn Styx đã phá tung đài chỉ huy, chiếc 389 có lẽ không ngờ được là Đ/úy Trí còn sống sót, vì thế chúng không thể nào tránh né được cú đụng này và có lẽ chúng đã quan sát một cách rõ ràng những diển tiến trên ĐCH nên trong bài viết chúng đã nêu rõ là Đ/úy Trí “dốc toàn lực định húc vào tàu chúng.”


Vì lúc bấy giờ trên ĐCH và phòng lái không còn ai sống sót, ngoại trừ HP Nguyễn Thành Trí do đó không ai biết được lý do chính xác và nếu không nhờ những chi tiết từ bài viết của TC, chiến công oanh liệt và oai hùng của HP Nguyễn thành Trí sẽ không được biết đến.

- Tài liệu “On January 19, 1974 Xisha defended the war” trong phần tổng kết thiệt hại về phía TC trong trận hải chiến HS là 18 người chết và 67 người bị thương (chưa được kiểm chứng) trong số đó chiếc 389 trực chiến với HQ 10 có số thương vong cao nhất là 10 người chết, như vậy đã chứng tỏ mức độ giao chiến rất khốc liệt giữa HQ 10 và 389.

Tuy dáng người vạm vỡ, nhưng với vết thương quá nặng có lẽ HP Nguyễn Thành Trí biết là mình sẽ không thể nào sống sót được lâu, nên sau khi tất cả nhân viên đã xuống bè, ông quyết định ở lại chết với chiến hạm, nhưng các nhân viên đã bắt buộc ông phải xuống bè với họ.     
Về việc Đại úy Trí quyết định không đào thoát, ở lại tàu tử thủ có 2 tài liệu viết trong khoảng thời gian ngắn sau biến cố HS đã chứng minh một cách rõ rệt:

Tài liệu “Đêm Xuân trên vùng biển chết” của tác giả Thanh Chương trong Lướt Sóng: “Người đã bị thương nhiều nhưng quyết ở lại cùng HT…… Một nhân viên đã phải vực Người nhẩy xuống cùng bè với tôi, bè cấp cứu sau cùng rời chiến hạm.”

Tài liệu của tác giả ẩn danh viết: “…. Hạ sĩ Trọng pháo Trần Ngọc Sơn và Thủy thủ Thám sát Trương Văn Long 2 người này đã cặp Đại úy Hạm phó và lôi xuống bè.”

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
** Hạm Trưởng HQ 16 nhận xét không chính xác khi ông viết: “Tiếp đến HQ-10 báo cáo Hạm trưởng bị thương. Tôi ra lệnh Hạm phó lên thay quyền chỉ huy, đồng thời đặt ống nhòm nhìn sang HQ-10 tôi thấy một ngọn lửa nhỏ cháy ở đài chỉ huy có thể dập tắt được bằng bình CO2 mà sao không ai làm. Quan sát phía sau lái HQ-10 tôi thấy 4, 5 cái đầu nhấp nhô trên mặt biển. Tôi không biết chuyện gì xẩy ra trên HQ-10 vì không nghe báo cáo gì thêm. Tôi đoán chừng vì Hạm trưởng bị thương nặng nên HQ-10 như rắn mất đầu. Một số nhỏ nhát gan sợ tàu cháy hay trúng đạn nổ nên đã nhẩy xuống biển.”

••• Lúc này HT Thự đang ở trên HQ 16, nên không biết rõ là HP Nguyễn Thành Trí đã ra lịnh đào thoát vì thế ông thấy vài nhân viên nhảy xưống biển [26].         
*** Xin đính chánh là HQ 6 thay vì HQ 5.

**** Dựa trên tài liệu của TC/CTCT:“Chiến hạm cùng thủy thủ đoàn gồm 82 người đã bị mất liên lạc.”  [27]. Tuy nhiên số chiến sĩ chết theo chiến hạm là 55 người, 7 chiến sĩ chết trên đường đào thoát, 21 chiến sĩ sống sót. Do vậy, thủy thủ đoàn HQ 10 phải là 83 người [25]

**** Tài liệu của TC/CTCT viết: “thương thuyền Kopionella quốc tịch Hòa Lan đã vớt được 23 thủy thủ của Hộ tống hạm HQ 10.. Trong số này có 2 quân nhân bị tử thương (gồm có 1 Đại úy Hạm phó)” [27]

Chi tiết này không đúng vì Đại úy Hạm phó đã hy sinh trên bè đào thoát và tàu dầu Hòa Lan chỉ vớt được tổng cộng có 22 người.

Sau khi lên tàu Th/s 1/TP Châu đã ra đi vì quá kiệt sức.Do vậy chỉ còn 21 chiến sĩ trên HQ 10 sống sót.
                                    __________________________________________________


Tham kh
ảo

- [1] Theo lời thuật lại của chị Nguyễn Thành Trí trong lần đến thăm chị ở Sài Gòn vào tháng 10/2006.

- [2] Tất Ngưu. “Trận hải chiến Hoàng Sa dưới mắt một người còn sống sót” www.sqhq25.org

- [3] Phúc trình số 001/HQ5/PT/K, KBC.3328,HQ.5  ngày 21/02/1974 của HQ Trung tá Phạm Trọng Quỳnh, Hạm trưởng Tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ 5 gởi Phó Đề đốc Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải. (Tài liệu này do anh Trương Văn Quang , Úc Châu sưu tầm )

- [4] Hà Đăng Ngân. “Hoàng Sa và HQ 10” trong www.hqvnch.net                       
- [5] Nguyễn Đông Mai. “Lần đào thoát ở Hoàng Sa” (TTHS-THHQ&HH 2004)

- [6] La Thành Danh. “Hải chiến Tây Sa ngày 19/01/1974” dịch từ                                                                    từ  http://military.china.com/zh_cn/history2/06/11027560/20050707/12465030.html
- [7] Nguyễn Thị Thanh Thảo. “Tài liệu mới HQ 10 –Hoàng Sa” www.hqvnch.net

- [8] Xem bài “Lực lượng Trung Cộng trong biến cố Hoàng Sa” www.hqvnch.net


- [8a] Khuôn mặt anh hùng HQ Thiếu tá Nguyễn Thành Trí, Đặc san Lướt Sóng số đặc biệt Chiến thắng 
Hoàng Sa ,Cục Tâm lý chiến /KCTCT /BTL /HQ ấn hành năm 1974.         
- [9] Lữ Công Bảy “Hoàng Sa: tường trình 35 năm sau” nhật báo Tuổi Trẻ, tháng 9 năm 2009. (trong bài này tác giả đã viết như sau: “…HQ 10 đã bị trúng đạn, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử thương, Hạm phó Nguyễn Thành Trí trọng thương. Hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thùy thủ trên đài chỉ huy đều bị tử    thương và trọng thương rất nặng…”
NHẬN XÉT: Trên hầu hết chiến hạm, các nhân viên chuyên nghiệp về Giám lộ và Vận chuyển được sử dụng trên đài chỉ huy và phòng lái  .
Trong danh s
ách các chiến sĩ HQ 10 sống sót không có ai thuộc hai ngành này.      
- [10] Vương Văn Hà. “Người về từ Hoàng Sa” – TTHS-THHQ&HH, 2004         
- [11] Thanh Chương. “Đêm Xuân trên vùng biển chết” Đặc san Lướt Sóng số đặc biệt Chiến thắng        
Hoàng Sa, Cục Tâm lý chiến/BTL/HQ ấn hành năm 1974.   
- [12] HQ Đại úy Lê Văn Thự Trung tâm trưởng TTHQ/VIDH. “Trận hải chiến Hoàng Sa và nước mắt   
của vị Tư lệnh Hải quân” phổ biến vào năm 1997 tại Yukon – Oklahoma (Câu nói này chính Đ/úy Thự đã nghe nhân viên HQ 10 trên cùng bè đào thoát với Đ/úy Trí kể lại sau khi HQ 6 đưa họ về Đà Nẵng).
- [13] Tường trình ủy khúc số 121/BTL/HĐ/NV/TTUK/K ngày 16/02/1974 của BTL/HĐ 
- [14] Điện văn số 075995 ngày 22/01/1974 của BNG/HK gởi TĐS/HK/SG          
- [15] Công điện ngày 19/01/1974 lúc 09:50H của Tư lệnh Đệ 7 Hạm đội HK        
- [16] Công điện ngày 19/01/1974 lúc 12:20H của Tư lệnh Không quân Hoa Kỳ Thái Bình Dương           
- [17] Phiếu trình số 7401339 ngày 21/01/1974 trong nội bộ BNG/HK        .
- [18] Điện văn số 0944 ngày 20/01/1974 của JCS gởi BNG/HK      .
- [19] Điện văn số 01000 ngày 22/01/1974 của TĐS/HK/SG  gởi BNG/HK            .
- [20] Điện văn số 043601 ngày 22/01/1974 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK           .
- [21] Điện văn số 044384 ngày 22/01/1974 của BNG/HK gởi Văn phòng Liên lạc Hoa Kỳ ở Bắc Kinh. 
- [22] Điện văn số 056473 ngày 23/01/1974 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK          
- [23] Đại tá Võ Sum. “Nhật ký bên lề trận hải chiến Hoàng Sa” Đặc san Lướt Sóng số đặc biệt Chiến     thắng Hoàng Sa, Cục Tâm lý chiến//BTL/HQ ấn hành-1974.         
- [24] “Tài liệu về trận Hải chiến Hoàng Sa do Trung Quốc công bố” anhbasam.wordpress.com/2011/1    
- [25] Phạm Mạnh Khuê “Hành quân Trần Hưng Đạo 47”(TTHS-THHQ&HH-2004)                    
- [26] Lê Văn Thự. “Sự thật về trận hải chiến Hoàng Sa”- Calitoday, March 08, 2004.      
- [27] Tổng cục Chiến tranh Chánh trị/Cục Tâm lý chiến “Thế giới lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa của VNCH” ấn hành năm 1974.     
           
                                     BỔ TÚC VỀ SỰ THIỆT HẠI CỦA TRỤC LÔI HẠM 389                            
Trong https://en.wikipedia.org/wiki/Type_010_minesweeper cho là chiếc 396 là chiếc bị thiệt hại nặng nhất và phí tổn sửa chửa cao nhất từ trước đến nay.  
Tuy nhiên nhiều tài liệu đáng tin cậy trong đó có http://www.mdc.idv.tw/mdc/navy/china/t43.htm và một số hình ảnh đã được phổ biến thì chiếc 389 là chiếc bị thiệt hại nặng nề nhất về nhân mạng và vật chất.     
Chiếc này đã bị chìm, được vớt lên mang về đảo Phú Lâm sửa chửa khẩn cấp cả tháng trời sau đó lại được mang về nước sửa chửa tiếp      .
Tuy nhiên có lẽ bị thiệt hại quá nặng ngoài khả năng sửa chửa nên đã bị phế thải sau lần trưng bày tại

Dalian trong năm 1974.