Monday, December 25, 2023

hải chiến hoàng sa, hoàng sa tháng 1 năm 1974, trung cộng chiếm hoàng sa, kế hoạch Trung Cộng, âm mưu trung cộng, tổng thống thiệu, hồ văn kỳ thoại, trần văn chơn

 

                        ÂM MƯU và KẾ HOẠCH CƯỠNG CHIẾM HOÀNG SA

                                  THÁNG 1 NĂM 1974 CỦA TRUNG CỘNG
                                                                                       
Thềm Sơn Hà
          (trích trong "Sự Thật Hải Chiến Hoàng Sa 19/01/1974" lần tái bản năm 2022)

                                                      Bài viết nguyên thủy dưới tựa đề “Kế hoạch cưỡng chiếm Hoàng Sa tháng 1 năm 1974 của Trung Cộng”đã được đăng trong đặc san Đồng Nai-Cửu Long số 12 tháng 3-2011 do Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm chủ trương và phổ biến trên www.hqvnch.net từ tháng 9-2011.          


Lời mở đầu: Dựa trên một số tài liệu mật về phía Hoa Kỳ, các bài viết, bài phỏng vấn và sách viết về trận hải chiến Hoàng Sa đã tìm được, đã đăng tải và đã phát hành từ trước cũng như gần đây; tác giả hy vọng sẽ trình bày phần nào sự thật về lý do tại sao chúng ta mất Hoàng Sa. 

Mặc dù các tài liệu liên quan đến trận hải chiến Hoàng Sa (HS) cho đến nay vẫn còn nhiều mâu thuẫn, nhưng có một sự thật không thể chối cãi được là trong trận hải chiến này, tất cả các chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa (HQ/VNCH) trên các chiến hạm tham chiến đã chiến đấu một cách anh dũng và can trường trước kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng (TC).      
                                

Ấn bản “Conway’s all the world Fighting Ships 1947-1982 – Part II ấn hành năm 1983” đã viết như sau: “HQ/VNCH đã chứng tỏ sự dũng cảm trong tháng 1-1974.

Trung Cộng đưa một tiểu đoàn xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa cách 225 hải lý về hướng Đông Viêt Nam, nhưng cường quốc Cộng sản đã phải trả giá với 2 chiến hạm bị đánh chìm và 2 chiếc khác bị thiệt hại nặng, bù lại một chiến hạm Việt Nam bị chìm.”

Ulysses O. Zalamea trong bài “Eagles and Dragons at Sea” đã có nhận xét trung thực và ngắn gọn: “Năm 1974, Hải quân TC đã dùng vũ lực chiếm quần đảo HS từ Việt Nam, để thực hiện điều này, TC đã chịu tổn thất nặng nề.” [1]

Gerald Kosh (người đã chứng kiến những diễn tiến ngay từ đầu) rất khen ngợi các chiến sĩ HQVN, ông ghi nhận họ
“có kỹ luật và niềm tự hào, các Sĩ quan HQVN rất xuất sắc.”

Ngoài ra Kosh còn nhận xét là “toán chiến sĩ cơ hữu thuộc HQ 4 trên đảo Cam Tuyền trội hơn quân Trung Cộng đổ bộ lên đảo và đã được huấn luyện kỹ, chỉ huy giỏi.” [2]

                             -------------------------------------------------------------------------------------

 

 

                             Diễn tiến dẫn đến việc Trung Cộng (TC) chiếm đoạt Hoàng Sa (HS) của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) khởi đầu bằng bản tuyên cáo ngày 11/01/1974 của Bộ Ngoại giao TC cáo buộc VNCH “… đặt hơn 10 đảo thuộc quần đảo Nam Sa (Nansha Islands) của Trung Hoa (TH) dưới quyền quản trị của tỉnh Phước Tuy …”


Hành động này của TC đã cho thấy một cách rõ ràng là để phản ứng lại nghị định ngày 06/09/1973 của chánh phủ VNCH sáp nhập một số đảo ở Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Mặc dù bản tuyên cáo nhấn mạnh vào quần đảo Trường Sa (TS) cách quần đảo HS khoảng 400 hải lý (nautical mile) về hướng Nam, tuy nhiên cũng đã lập lại việc xác nhận chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Sa (Chungsha-Macclesfield) và Đông Sa (Tungsha-Pratas).

Tương tự như bản tuyên cáo phản đối chánh phủ Phi Luật Tân trong năm 1971, nhưng đây là lần đầu tiên TC cho là “…các tài nguyên thiên nhiên trong vùng biển bao quanh các quần đảo này cũng thuộc về Trung Hoa.”

Ngoài ra, TC còn dùng lời lẽ cứng rắn có tính cách đe dọa như “nghiêm khắc lên án chánh quyền Sài Gòn vô cớ xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung Hoa.” [3]          

       
Biến cố Hoàng Sa đối với VNCH là một biến cố bất ngờ và trận hải chiến giữa HQ/VNCH và HQ/TC xảy ra sáng ngày 19/01/1974 theo lời của Đề đốc Trần Văn Chơn Tư lệnh HQ như là một cuộc “…tao ngộ chiến ...” [4]

Điều này rất chính xác trong vị thế của VNCH nhưng đối với TC là cả một sách lược và đã được nghiên cứu, chuẩn bị, thao dượt và thi hành rất chu đáo.

Chính Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã chấp thuận kế hoạch hành quân chiếm HS. Bộ trưởng Quốc phòng Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình _ người vừa được phục hồi chức vị 9 tháng trước đó _ được trao nhiệm vụ giám sát [5] (theo tài liệu của Bộ Quốc phòng HK thì Đặng Tiểu Bình đã chấp thuận kế hoạch hành quân do Tư lệnh Hải quân/TC Liu Huaqing soạn thảo).     

Kế hoạch của TC dự trù loại trừ khả năng chiến thắng và tái chiếm Hoàng Sa của VNCH một khi trận chiến bùng nổ, do vậy TC đã dự trù lực lượng Hải Lục Không quân cần thiết và đã cân nhắc đối phó theo mỗi tình huống để lúc nào cũng duy trì thế chủ động.  
Đ
iển hình là TC đã đưa lực lượng Komar đến nhóm Nguyệt Thiềm trước khi xảy ra đụng độ. Nhưng vì trở ngại nhiên liệu, chúng chỉ gây thiệt hại cho Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10, nếu không lực lượng HQVN sẽ chịu thiệt hại hết sức nặng nề.


Ngoại trưởng (NT) VNCH Vương Văn Bắc nhận xét thật chính xác: “… Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa (rồi Trường Sa về sau nầy) hẳn là theo một kế hoạch đã soạn thảo lâu và ở cấp cao nhất, nhằm biến biển Ðông thành một thứ “biển nhà, ao nhà” (Mare Nostrum), chứ không phải là kết quả của một phút bốc đồng, trong một cơn phẫn nộ nhất thời.” [6]     
HQ Đại tá Hà Văn Ngạc người chỉ huy trận hải chiến nhận xét: “Việc Trung Cộng lấn chiếm những đảo không có quân trú phòng của ta trong vùng Hoàng Sa, đã phải được họ chuẩn bị và thiết kế chu đáo từ lâu trước khi tái tuyên bố chủ quyền.”       

Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ tại Hồng Kông nhận định: “… có bằng cớ chính đáng là Trung Quốc đã liệu trước về khả năng hành động quân sự tại quần đảo Hoàng Sa trong khoảng thời gian trước khi bắt đầu xảy ra các vụ rắc rối vào giữa tháng giêng. Dù TC có thực sự soạn thảo kế hoạch kích động một sự cố để rồi chiếm trọn tất cả các đảo hay không, vẫn còn là một câu hỏi chưa có câu trả lời. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, một khi cuộc giao tranh bắt đầu, Bắc Kinh đã hành động một cách dứt khoát và vận dụng tất cả lực lượng cần thiết trục xuất Việt Nam ra khỏi các đảo trong đó có một số đảo mà họ đã chiếm đóng trong nhiều năm.” [7]

Có nhiều nguyên do đã đưa TC đến quyết định chiếm đoạt HS, trong đó có lẽ hai nguyên nhân chính yếu nhất là thái độ của Hoa Kỳ (HK) và sự thiếu quan tâm trong việc phòng thủ nhóm Nguyệt Thiềm (nhóm Lưỡi Liềm) thuộc quần đảo Hoàng Sa của chánh phủ VNCH.


                                             LÝ DO TRUNG CỘNG CHIẾM HOÀNG SA

 

1.- Nguồn tài nguyên hải sản và phốt phát  

a.- Hải sản: vùng Biển Đông rất phong phú về hải sản và nguồn lợi này đã nuôi sống người dân trong vùng từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ngư dân nước ta vẫn thường xuyên ra tận vùng này để hành nghề từ bao năm nay. Trong khi đó, HQ/VNCH không đủ khả năng để kiểm soát vùng biển quá rộng lớn, chiến hạm không hiện diện thường trực để thi hành công tác tuần tiễu, vì thế ngư dân TC cứ tiếp tục vi phạm lãnh hải nước ta để khai thác hải sản.

Tổng số lượng hải sản trong Biển Đông được ước lượng có thể khai thác đến 30 triệu tấn mỗi năm, nhưng hiện nay chỉ có khoảng 13% là được khai thác.

Ngoài ra việc khai thác hải sản còn mang lại lợi tức cho gần 80 triệu người sinh sống dọc theo vùng duyên hải tiếp cận Biển Đông. Nguồn lợi thiên nhiên này đã có từ ngàn đời trước và sẽ còn mãi trong tương lai.

b.- Phốt phát: vốn là các đảo hoang từ ngàn năm trước nên chim chóc (chính yếu là chim Hải âu) đã tụ tập về đây trú ngụ và sinh đẻ, nhiều nhất là trên đảo Vĩnh Lạc và bãi Xa Cừ. Phốt phát do phân chim tác dụng trên chất vôi của san hô trải qua bao năm tháng dưới những cơn mưa, bão miền nhiệt đới tạo nên. Những lớp phốt phát chiếm khoảng từ 23% đến 25% trên một số đảo, khoảng 42% trên các đảo khác và chiều dày thường trên 1m

Theo E. Saorain trong cuốn “Archives Geologique du Vietnam”, số lượng phốt phát có thể khai thác được trên quần đảo HS lên tới 10 triệu tấn.

Căn cứ theo tài liệu của Tổng nha Khoáng chất và Công kỹ nghệ, số lượng phốt phát trên các đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm thuộc quyền kiểm soát của VNCH như sau:

-          Đảo Hoàng Sa: từ 562.000 đến 960.000 tấn, trên đảo có hệ thống đường rầy và cây cầu nhỏ để mang phốt phát xuống tàu.

-          Đảo Cam Tuyền: từ 675.000 đến 1.400.000 tấn. Để cho việc chuyển vận phốt phát được dễ dàng, nguời Nhật đã dựng lên những khối phốt phát để cản sóng và cây cầu sắt dài khoảng 300m. Những cơ sở này đã bị bỏ phế vì việc khai thác không mang lại lợi nhuận.

-          Đảo Vĩnh Lạc: từ 787.000 tấn đến 1.200.000 tấn.

-          Đảo Duy Mộng: từ 675.000 tấn trở lên [8].       
 

2.- Triển vọng về dầu hỏa
Các cuộc thăm dò ngoài khơi Biển Đông do cơ quan ECAFE (Economic Commision for Asia and the Far East) thuộc Liên hiệp quốc bảo trợ vào cuối năm 1968 và đầu năm 1969 đã mang lại những kết quả rất khích lệ, chứng tỏ có thể có những túi dầu dự trữ thật lớn nằm dưới lòng Biển Đông nhất là trong khu vực TS kéo dài đến HS và khu vực bãi ngầm Macclesfield nằm về hướng đông nam HS.

Tháng 6/1971, chánh phủ VNCH loan báo ý định cấp quyền thăm dò và khai thác dầu hỏa trong khu vực trải dài từ Biển Đông cho đến vịnh Thái Lan [9].

Tài liệu nghiên cứu trong tháng 7/1971 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (BNG/HK) nhận xét: “Biển Đông trong thời gian gần đây đã trở thành địa điểm gia tăng sự bất ổn vì Phi Luật Tân đưa quân vào quần đảo TS, đồng thời yêu cầu Đài Loan rút khỏi đảo Ba Bình. Những hành động gần đây ở Biển Đông có thể là do kết quả của sự nhận thức là tiềm năng dầu khí rất lớn.” [10]

Tháng 7/1973, 4 công ty dầu ngoại quốc Shell, Mobil, Esso và Sunnydale đã trả lệ phí tổng cộng là 16,6 triệu dollars để được chánh phủ VNCH cấp quyền thăm dò dầu hỏa trong 8 lô trên tổng số 40 lô (mỗi lô rộng 7,000 km2) [11].

Cũng trong năm 1973, Phi Luật Tân nhượng quyền khai thác cho công ty hỗn hợp Thụy Điển-Phi Luật Tân ở khu vực ngoài khơi quần đảo TS nằm về hướng tây đảo Palawan.


Văn thư của Đại sứ Martin gởi Hội đồng An ninh Quốc gia HK có viết như sau: “…theo báo cáo sơ bộ thăm dò địa chất bắt đầu lộ ra, có thể có một số lượng khổng lồ dầu hỏa dưới lòng Biển Đông trong vùng lân cận của các phần bất động sản này, nếu không thì chẳng có giá trị gì.” [12]


Tuy VNCH không bao gồm HS trong các khu vực nhượng quyền khảo sát dầu hỏa nhưng TC nhận thức là đã đến lúc cần phải chận trước bằng cách chiếm trọn HS để điều này sẽ không xảy ra.      
Ngoài ra hành động của TC ở HS cũng có thể có ý định hạn chế các cố gắng khai thác dầu của các quốc gia khác cùng xác nhận chủ quyền ở Trường Sa.

Và sau cùng, TC còn có ý cũng cố chủ quyền của họ trước khi hội nghị về luật biển sẽ diển ra vào tháng 6-1974 tại Caracas, Venezuela [3].

 

Bản tin CIA số 289 trong ngày 19/01/1974 nhận xét: “Trung Quốc cảm thấy cần phải tái khẳng định quyền lợi của mình vì các nhượng bộ gần đây mà chánh phủ Sài Gòn đã cấp cho các công ty Tây phương thăm dò dầu ngoài khơi.”

Nhật báo The New York Times ngày 22 tháng 1: “Các viên chức thuộc BNG/HK cho là sự khai thác các mỏ dầu có thể có chung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là động lực cho TC và VNCH khẳng định chủ quyền.”

   

Việc đi tìm những nguồn cung cấp nhiên liệu là điều kiện thiết yếu của TC. Tháng 9-1993, Phó Đô đốc Zhang Xusan thuộc Hải quân TC tuyên bố: “đã đến lúc Trung Hoa cần thay đổi chiến lược biển và cố gắng nhiều hơn để tìm nguồn lợi dầu hỏa và khí đốt trong Biển Đông.” [7] 
Điều quan tâm này của TC đã có từ lâu và đã chứng tỏ qua việc TC mang dàn khoan đến khu vực đảo Phú Lâm và Macclesfield Bank trước khi xảy ra cuộc xung đột [3].   

Và sau khi chiếm đoạt HS, tháng 6/1974, TC đã bắt đầu khoan thăm dò trong khu vực này, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy công bố kết quả [8].          
 

3.- Vị trí chiến lược và gia tăng hoạt động của Hải quân Nga Sô trong vùng Biển Đông và Ấn Độ Dương.

••• Tài liệu mật nghiên cứu về Biển Đông của BNG/HK tháng 8/1956 đã viết như sau: “Mặc dù kích thước nhỏ và tính hữu dụng rất hạn chế, vị trí chiến lược của các đảo này và sự nhạy cảm của chủ nghĩa dân tộc của các bên tranh chấp, rất có thể là những nhóm đảo này thỉnh thoảng sẽ tiếp tục thu hút sự chú ý của quốc tế, và chừng nào chúng còn được thăm viếng hay được canh phòng bởi các bên tranh dành nhau, vẫn còn khả năng có thể xảy ra xung đột vũ trang.” [13]

Biển Đông bao phủ một khu vực rộng đến 3,5 triệu km2, nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương và là gạch nối quan trọng giữa các lục địa Á Châu, Âu Châu, Phi Châu và Úc Châu.

Chiếm đoạt Hoàng Sa và Trường Sa sẽ kiểm soát hải trình vùng phía bắc Biển Đông và hải trình nối liền Đông Nam Á với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.


Sự phát triển kinh tế vượt bực của các nước trong vùng Biển Đông đã làm gia tăng số lượng hàng hóa, nguyên liệu và nhiên liệu xuất, nhập cảng. Do đó việc sử dụng thương thuyền để làm phương tiện chuyên chở cũng tăng theo.


Điều này đã biến hải trình ngang qua Biển Đông trở thành một trong những hải trình bận rộn nhất trên thế giới (đứng hàng thứ 2). Mỗi năm có hơn ½ hạm đội thương thuyền trên thế giới đi ngang qua eo Malacca vào Biển Đông (khoảng 50,000 thương thuyền).


Hàng năm, tổng số lượng hàng hoá di chuyển ngang Biển Đông có giá trị lên đến 5.300 tỷ đô la, trong đó 1.200 tỷ đô la hàng hóa trao đổi với HK và 4.100 tỷ đô la với các nước khác.

Ngoài ra do nhu cầu gia tăng tiêu thụ nhiên liệu, khoảng 80% số lượng dầu thô nhập cảng vào TC, Nhật, Đài Loan và Nam Hàn cũng đi ngang qua khu vực này.

Những dẫn chứng kể trên cho thấy sự phát triển kinh tế của TC, các quốc gia trong vùng Biển Đông và vùng Đông Bắc Á Châu lệ thuộc rất nhiều vào sự an toàn và tự do thông thương của thủy trình huyết mạch này. [8]


Sự kiện Nga quan tâm đến vị trí chiến lược của Biển Đông qua việc gởi hạm đội Thái Bình Dương tăng cường hoạt động trong khu vực Biển Đông và Ấn Độ Dương đã khiến giới truyền thông TC thường xuyên chỉ trích là để “đi tìm ưu thế về hải lực” và là một sự đe dọa cho “nền hòa bình và an ninh của các quốc gia trong vùng Đông Nam Á.”        
 

Trong khi đó Nga Sô tố cáo TC “gieo gió trong Biển Đông như là một phần trong kế hoạch ác hiểm của TC trong vùng Đông Nam Á.” [9]       


4.-
 Bất hòa giữa Nga-TC, gia tăng ảnh hưởng của Nga đối với Cộng sản Bắc Việt

Mối bất hòa giữa TC-Nga Sô đã trở nên trầm trọng, TC đã ngấm ngầm xem Nga là kẻ thù. Trong chuyến thăm Bắc Kinh tháng 11-1973, lần đầu tiên phái đoàn báo chí tháp tùng Kissinger đã được hướng dẫn đi thăm các hầm trú ẩn tránh bom (mỗi hầm có thể chứa đến 2.500 người) và được các giới chức TC cho biết là họ chuẩn bị để chống lại kẻ thù và kẻ thù này là Nga (107888 ngày 12/11/1973 BNG gởi TĐS/SG).

Và bắt đầu lộ diện qua việc TC trục xuất nhân viên Nga ở Bắc Kinh. Ngược lại, Nga Sô có ý định cô lập và kiềm chế TC cũng như cố gắng dành lấy ưu thế đối với Cộng sản Bắc Việt (CSBV).

Trong khi đó mối giao hảo giữa TC và CSBV bắt đầu rạn nứt qua việc TC lo ngại CSBV gia tăng ảnh hưởng đối với Cao Miên và Lào, sự bất đồng gìữa hai nước về các căn cứ HK trên đất Thái.


Ngoài ra CSBV còn đứng về phía Nga Sô trong các vấn đề quốc tế như Nga Sô xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968, đàn áp cộng sản Sudan năm 1971, chiến tranh giữa Ấn Độ và Pakistan, khủng hoảng Trung Đông.

Báo Nhân Dân ra ngày 20 tháng 11-1973 đã gián tiếp công kích Bắc Kinh qua bài bình luận chỉ trích nặng nề lời tuyên bố của Thủ Tướng Nhật Tanaka khi ông cho là “lực lượng HK đảm bảo ổn định và an ninh ở Á Châu”, trong khi đó lại cố ý bỏ qua đoạn ông Tanaka ám chỉ là TC ủng hộ hiệp ước quân sự Hoa Kỳ-Nhật Bản [14].    

Hơn ai hết, Hoa Kỳ đã hiểu rõ điều này, vì thế trong bản tin nội bộ ngày 23 tháng 3-1974 CIA cho là: “Moscow cũng có thể lo ngại việc chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc là bằng chứng của một sự thỏa thuận  giữa Peking và Washington liên quan đến khu vực.” (Central Intelligence Bulletin số 308 ngày 23-03-1974).


Sau cùng, TC lo ngại CSBV sẽ không giữ mãi sự im lặng trước câu hỏi về vấn đề chủ quyền trên các hải đảo và nếu trong tương lai CSBV thôn tính VNCH, lợi thế của Nga sẽ làm trở ngại cho các hoạt động quân sự, kinh tế và thương mại của TC trong vùng Biển Đông. Vì thế, chủ yếu của TC là chống lại việc có thể trong tương lai CSBV sẽ chiếm đóng HS đồng thời để ngăn chận việc Nga sử dụng các hải đảo này như là cơ sở hỗ trợ cho hạm đội Nga hoạt động trong khu vực nối liền Biển Đông và Ấn Độ Dương (đây là điều mà Nga Sô mong đợi sẽ được nhà cầm quyền Hà Nội dàn xếp như là sự trả ơn).     

5.- Tranh chấp nội bộ Trung Cộng

Trong buổi họp tại Bộ Quốc phòng (BQP) ngày 01/02/1974 có mặt Henry Kissinger Ngoại trưởng kiêm Cố vấn Hội đồng An ninh Quốc gia (HĐANQG), James Schlesinger Bộ trưởng BQP, Brent Scowcroft Phụ tá Cố vấn HĐANQG.    

Khi Schlesinger đề cập đến việc Sullivan, Đại sứ HK ở Phi Luật Tân cho là Hoa Kỳ bắt buộc có trách nhiệm đối với Phi trong quần đảo Trường Sa và đề nghị Kissinger tiếp xúc TC, Kissinger trả lời là “TC đang có vấn đề nội bộ, nhưng họ đã phản ứng một cách nhanh chóng.”

Trong câu hỏi tiếp theo của Schlesinger về HS, Kissinger cho là: “tại TC đang xảy ra tranh luận trong nội bộ. Hoặc là cánh tả hay chính Chu ân Lai đã chủ trương xâm chiếm Hoàng Sa để cho thấy là ông ta cảnh giác chống lại chủ nghĩa đế quốc.” [15]


Báo Deutsche Zeitung của Đức trong ngày 25/01/1974 viết về trận hải chiến Hoàng Sa: “cũng có thể là Bắc Kinh cần có một sự thắng lợi về mặt quân sự để lấy lại sự tự tin của quân đội trong cấp lãnh đạo trung ương, tiếp theo cuộc cải tổ lớn tại các bộ tư lệnh quân khu.           
Đ
iều này chắc chắn là một cuộc hành quân mà Mao và Chu đã giám sát” [16]



6.-Ho
ạ
t động củng cố chủ quyền về phía VNCH

- Tháng 8/1973, HQ/ VNCH mở cuộc hành quân đổ bộ chiếm đóng đảo Nam Yết. Lần đầu tiên trong lịch sử, chánh quyền VNCH đã chánh thức thiết lập sự hiện diện thường trực của Việt Nam trong quần đảo Trường Sa [17].

- 12/08/1973, từ Đà Nẵng một toán chuyên viên Việt-Nhật đã được Tuần dương hạm Trần Quang Khải HQ 2 đưa ra HS nghiên cứu về phốt phát. Phái đoàn trở về Đà Nẵng ngày 22 tháng 8/1973 [18].

- 06/09/1973, VNCH xáp nhập quần đảo TS vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

- 03/10/1973, một chiến hạm của hải quân rời Đà Nẵng chở theo toán chuyên viên của Tiểu đoàn 8 Công binh Kiến tạo ra HS với nhiệm vụ thám sát địa điểm thích hợp để xây cầu tàu trên đảo Hoàng Sa và tái dựng lại bia chủ quyền trên đảo Cam Tuyền.  
Chiến hạm trở lại Đà Nẵng ngày 5 tháng 10 sau khi hoàn tất công tác [19].

             Qua các sự kiện trên, Đại sứ Martin nhận xét: “… Chánh phủ Việt Nam gần đây đã có vài biện pháp để tái xác nhận chủ quyền trên hai quần đảo TS và HS. Các hành động này hình như là một phần của kế hoạch lâu dài đã được chánh phủ VN phối hợp để cũng cố vị thế VN trong việc sửa soạn cho một quyết định có thể xảy ra. Ngoài ra gần đây, chánh phủ VN đã gia tăng sự quan tâm trên các quần đảo này vì một số viên chức hy vọng vào tiềm năng tài nguyên phốt phát và dầu hỏa có thể, trong tương lai, mang đến sự tiếp sức cần thiết cho nền kinh tế đang gặp khó khăn của VN.

Hành động của VN cũng có thể là phản ứng trước sự kiện gần đây Đài Loan đã tái xác nhận chủ quyền của họ trên quần đảo TS.” [19]


Các ho
ạ
t động liên tục xác nhận chủ quyền ở TS và ý định cũng cố và khai thác HS của chánh quyền VNCH cũng là lý do khiến TC cấp tốc thi hành kế hoạch xâm chiếm HS (chỉ tiếc một điều là đến lúc chánh phủ VNCH bắt đầu lưu ý đến HS thì đã quá muộn !!!).


7.- Thái độ của Hoa Kỳ    
- Mùa hè năm 1951, TC đã đưa một số người thuộc lực lượng an ninh công cộng chiếm cứ 3 đảo trong nhóm Tuyên Đức, và bắt đầu khởi sự thiết lập trạm truyền tin, trạm thời tiết và doanh trại. (CIA-RDP82-00457R009200010010-2 ngày 1 tháng 11-1951).          
- Từ tháng 8/1955, phi cơ không tuần của HK ghi nhận TC bắt đầu đưa người lên đảo Phú Lâm và xây dựng cơ sở, tháng 1/1956, TC chánh thức chiếm cứ đảo Phú Lâm.

(theo tài liệu của Cincpac Command History năm 1973 “TC bắt đầu chiếm đóng phía Bắc quần đảo HS  năm 1955 khi 250 thường dân được đưa lên đảo Phú Lâm để khai thác phân chim.”)
- Tháng 4/1956, Pháp hoàn tất triệt thoái lực lượng về nước nhưng còn duy trì trên đảo HS 6 người Pháp và một vài người Việt phụ trách điều hành đài khí tượng và trạm truyền tin.    
Lợi dụng cơ hội này TC đã cho một nhóm người đổ bộ lên đảo Cam Tuyền.

Ngoại trưởng VNCH Vũ Văn Mẫu nhận được báo cáo đã lập tức thông báo cho tòa Đại sứ HK và tin này đã được chuyển về Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ John F Dulles nhận định đây là một trường hợp quan trọng và đã có những buổi họp bàn về phương thức hành động. Đồng thời lập tức phái “… một phân đội gồm 2 khu trục hạm và phi cơ không thám đến tận nơi để mở cuộc thám sát trên biển, trên không và trên bộ đảo Cam Tuyền trong ngày 12 và 13 tháng 6.   
Không tìm th
ấ
y kết quả qua các cuộc thám sát này.” [20]

- Tháng 8/1956, trong bài nghiên cứu mật về Biển Đông, BNG HK đã xác định: “Vị thế quốc tế của các quần đảo này chưa bao giờ được giải quyết. Hoa Kỳ không đưa ra yêu sách chủ quyền của riêng mình trong khu vực, cũng như không đưa ra bất cứ  quyết định chính thức nào về giá trị của các yêu sách chủ quyền riêng biệt của các nước khác.” [13]     
- 28/07/1959 Wang Bingnan Đại sứ TC tại Ba Lan đã phản đối với Đại sứ HK Jacob Beam tại Ba Lan về việc chiến hạm và phi cơ HK trong tháng 6 và 7/1959 đã xâm phạm lãnh hải TC 11 lần trong khu vực quần đảo HS.

Đại sứ Beam đã phủ nhận chủ quyền của TC trên quần đảo HS và phát biểu là Hải quân HK hoạt động trong hải phận quốc tế và thi hành công tác tự vệ. [21]

- 03/08/1959 trong điện văn gởi cho Đại sứ Beam, Robert Murphy Phụ tá Thứ trưởng BNG/ HK Đặc trách về Chánh trị đã xác nhận là HQ/HK hoạt động ngoài hải phận quốc tế và tiêu chuẩn đặt ra cho công tác tuần tiễu của HQ/HK là ngoài khu vực 12 hải lý dựa trên đường thẳng căn bản mà TC đã vẽ ra, nhưng phi cơ HK có thực hiện các chuyến bay do thám ngang qua HS. Những chuyến bay tuần thám thường xuyên này đã được HK thực hiện trong nhiều tháng mà không gặp phải sự phản đối nào.    
Việc TC tuyên bố chủ quyền trên quần đảo không có giá trị pháp lý [21].


Các dẫn chứng trên đã cho thấy lập trường và thái  độ cứng rắn qua các hoạt động ngoại giao và quân sự của HK đối với TC trong quần  đảo HS  đã được thể hiện một cách rõ rệt và dứt khoát cho  đến cuối thập niên 60.

Tuy nhiên sang thập niên 70 thái độ HK đối với TC đã bắt đầu chuyển hướng qua các ghi nhận sau:  
- Tháng 7/1971, Henry Kissinger bí mật sang TC.     
- Tháng 9/1971, bài nghiên cứu về Biển Đông của Bộ Ngoại giao HK, ngay sau khi Phi Luật Tân chiếm cứ vài đảo nhỏ ở Trường Sa năm 1971 được đặt tên là “BIỂN ĐÔNG: Dành cho bất cứ ai ”. 
Bài này còn cho Biển Đông “là khu vực gây rắc rối … và có tiềm năng là thùng thuốc súng.”

Và cũng tương tự như các bài nghiên cứu từ trước, vẫn xác nhận là “HK không đứng về phía nào trước các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau.”  Ngoài ra còn khuyên “công ty địa vật lý và dầu hỏa HK nên tránh hoạt động trong khu vực tranh chấp. Chánh phủ cũng thông báo cho các công ty này là chánh phủ HK không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ tàu nào bị bắt giữ.”

- Tháng 10/1971, Kissinger công khai thăm TC.                                                                                 

- 25/10/1971, Đài Loan bị hất chân ra khỏi Liên hiệp quốc.

- Tháng 2/1972, Tổng thống Nixon thăm TC.

- 12/04/1972, tại văn phòng đại diện TC ở Liên hiệp quốc, New York, Huang Hua Đại sứ TC tại LHQ, trước sự hiện diện của Henry Kissinger đã đọc bản thông điệp có điểm nhấn mạnh đến HS như sau: “Phía TC ghi nhận sự cam kết trong bản văn mà TC đã nhận được ngày 3/04/1972 từ HK là chiến hạm và phi cơ HK sẽ không vượt quá giới hạn 12 hải lý trong quần đảo HS của Trung Hoa (China’s Hsi Sha islands).

Đồng thời phía TC tái xác nhận quần đảo HS là lãnh thổ không thể chối cãi của TC và chiều rộng phần lãnh hải của TC đã được quy định là 12 hải lý và TC đòi hỏi các nước tôn trọng điều này.” [22]
- 22/6/1972, Kissinger gặp Chu Ân Lai ở Bắc Kinh, trong dịp này Kissinger phát biểu: “HK đã công nhận việc TC phản đối chiến hạm và phi cơ HK vi phạm quần đảo HS và HK đã tiến hành việc giới hạn vào ngày 12 tháng 3.” 
- 27/01/1973, hiệp uớc Paris ra đời, chấm dứt sự can dự trực tiếp về quân sự của HK trong cuộc chiến VN
- Từ ngày 10 đến 14 tháng 11/1973, trong chức vụ Ngoại trưởng, Henry Kissinger thăm TC và cho biết ý định muốn bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Tài liệu lưu trữ không thấy đề cập đến quần đảo HS nhưng có một số câu hỏi do Thủ tướng Chu ân Lai đặt ra với NT Kissinger có liên quan đến khả năng hoạt động của phản lực cơ F-5 mà HK đang trang bị cho Không quân Đài Loan. (Không quân VNCH cũng đang sử dụng loại phi cơ này) [22]           
- 05/12/1973, để trả lời câu hỏi của nhà viết báo độc lập (freelance journalist) Mike Morrow về lập trường của chánh phủ HK trong việc TC tuyên bố chủ quyền trên khu vực rộng lớn của Biển Đông, đặc biệt là vùng biển chung quanh Trường Sa, Tòa Đại sứ/HK tại Singapore đã xin chỉ thị của BNG/HK [23].
- 12/12/1973, BNG/HK gởi điện văn đến các TĐS Sài Gòn, Singapore, Manila, Taipei và Văn phòng Liên lạc HK ở Bắc Kinh xác nhận “lập trường của HK trước cũng như sau vẫn luôn là không đứng về bên nào trong các tranh chấp về chủ quyền trên các quần đảo.” [24]

- 17/01/1974, Phát ngôn viên BNG/ HK tuyên bố HK không có chủ quyền trên các hải đảo và mặt khác không dính líu; vấn đề này do các quốc gia tuyên bố chủ quyền tự giải quyết với nhau [25].

Trong cùng ngày, tại Sài Gòn, lo ngại trước sự việc các chiến hạm VNCH và TC được tăng phái đến nhóm Nguyệt Thiềm có thể đưa đến đụng độ về quân sự. Đại sứ Martin nhận chỉ thị từ BNG/HK, đã gặp và nhấn mạnh với Ngoại trưởng Vương Văn Bắc 4 điểm sau:

         a.- sự cần thiết làm dịu tình hình

         b.- tránh bất cứ hành động nào có thể đưa đến sự leo thang.

         c.- lập tức cố gắng đưa sự xung đột qua lãnh vực ngoại giao như Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc.

         d.- dù trong bất cứ trường hợp nào quân đội Hoa Kỳ sẽ không can dự vào [26]. 
(điểm cần ghi nhận ở đây là trong ngày 17/1, Tổng thống Thiệu đang tiếp tục công tác ủy lạo chiến sĩ nhân dịp tết Nguyên đán tại Quân đoàn II, không rõ Ngoại trưởng Bắc có báo cáo cho ông về lập trường này của HK hay không?)

- 24/01/1974, Kissinger nhấn mạnh trong điện thư gởi ĐS Martin: “Tổng thống Thiệu biết rất rõ là HK không có lập trường trên các khía cạnh pháp lý của cuộc tranh chấp và HK tin tưởng là không nên dùng lực lượng quân sự để giải quyết vấn đề. Ông cũng nhận thức tính cách cấp bách của việc tránh một cuộc đối đầu quân sự của các cường quốc chính yếu trong khu vực này. Trong bối cảnh này, sự hỗ trợ chúng ta có thể dành cho chính phủ VNCH đối với quần đảo HS nhất thiết phải được giới hạn.” [26a          ]

Lập trường này cũng đã được xác định trong ngày 7 tháng 2, khi Đại sứ VNCH Trần Kim Phượng yêu cầu Phụ tá Ngoại trưởng HK Kenneth Rush giải thích lý do tại sao TC cưỡng chiếm Hoàng Sa, ông trả lời: “HK không có lập trường về chủ quyền trên các lãnh thổ này khi mà chúng không liên quan đến lợi ích quốc gia và an ninh cho HK. Điều gì thúc đẩy các nước ra tay hành động trong tranh chấp này là do các nước liên hệ giải thích.” [27]


Bài viết của NT Vương Văn Bắc cũng đã có những nhận xét tương tự: “Hoa Kỳ cho hay rằng họ không muốn dính dáng vào một vụ tranh chấp có nguồn gốc khá phức tạp trong lịch sử; họ cầu mong đôi bên có được sự dàn xếp hòa bình. Nói rõ hơn, Hoa Kỳ không muốn can thiệp vào vụ nầy, không muốn đứng hẳn vào một bên để chống lại bên kia.” [6]

                    
Đ
iểm quan trọng trong kế hoạch chiếm đoạt HS là TC phải đoán chắc được thái độ và lập trường của HK. Do đó sau khi vững tâm là HK sẽ đứng ngoài trước các sự xung đột về tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo trong vùng Biển Đông, TC đã tiến hành kế hoạch này.

 

8.- Lực lượng phòng thủ đảo Hoàng Sa    

Tình trạng phòng thủ yếu kém do sự thiếu quan tâm của VNCH đã là cơ hội tốt để TC lợi dụng dò xét tường tận hệ thống phòng thủ cùng địa thế trên tất cả các đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm, nhất là đảo duy nhất có lực lượng quân sự của VNCH trú đóng là đảo Hoàng Sa.     
Đặc san “Hoàng Sa lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa” do Bộ Dân vận và Chiêu hồi phát hành tháng 3 năm 1974, trong phần I Địa Dư xác nhận: “Để ngăn chận sự lấn chiếm thêm của ngoại bang, ta đã phái quân đội tới canh gác tại những đảo thuộc nhóm Nguyệt Thiềm. Việc trú  đóng có tính cách tượng trưng vì trong 5  đảo chính của nhóm  đảo này (Hoàng Sa, Cam tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa, Vĩnh Lạc) chỉ có Hoàng Sa là thường xuyên có một Trung Đội Địa Phương Quân, quân số không quá 30 người.”

a.- Quân số: trong ngày xảy ra trận hải chiến, trên đảo HS có một Trung đội Địa phương quân (ĐPQ) gồm 25 người trực thuộc Tiểu khu Quảng Nam do một Trung úy chỉ huy và toán nhân viên dân sự 4 người điều hành đài khí tượng.

Ngoài ra còn có 5 quân nhân thuộc phái đoàn Công binh công tác HS và một viên chức dân sự Hoa Kỳ thuộc toà Tổng Lãnh sự Đà Nẵng.

b.- Trang bị vũ khí: hầu hết ĐPQ được trang bị vũ khí cá nhân M16            .
Theo Chuẩn úy Nguyễn Văn Đức người từng giữ chức vụ đảo trưởng vào tháng 10/1969 thì toán ĐPQ còn có hai khẩu đại liên 50 ly (trích từ “Hoàng Sa trong ký ức một đảo trưởng” của Thế Anh, báo Tuổi Trẻ ngày 8 tháng 9/2009).

c.- Nhiệm kỳ toán ĐPQ và nhân viên đài khí tượng trên đảo:

••• Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ-Thoại, Tư lệnh Vùng 1 Duyên hải (TL/V1DH): “Chúng tôi có một Trung đội ĐPQ và 6 nhân viên dân sự phục vụ cho đài khí tượng trên đảo. Họ được thay thế mỗi ba tháng.” [32]

••• HQ Đại úy Trần Kim Diệp: “Vì là thành phần bị đi đày nên trong thời gian từ 3 đến 6 tháng ở đảo, họ không hề có tôn ti…” [29]

••• “Ông Nhự là một trong số ít những người đi ra Hoàng Sa đến 3 nhiệm kỳ (9 tháng, từ 1968-1971). (Báo Lao Động ngày 24/04/2009)

••• “…Mỗi kỳ ở đảo ba tháng. Khi ra, họ mang gạo, đậu xanh, nếp, khoai tây đóng thành thùng.”(HS một thời tuổi trẻ - Tiền Phong 09/2009)

••• Ông Võ Như Dân nhớ lại: “...Trạm quan trắc trên đảo có 5 nhân viên, gồm 3 quan trắc viên, 1 vô tuyến điện và 1 phục vụ. Mỗi nhiệm kỳ công tác 3 tháng.” (Ký ức Hoàng Sa _Tuổi Trẻ 23/12/2007)

••• HQ Thiếu tá Phạm Ngọc Lộ Giám đốc TTHQ/LĐ/Biển: “thường thường thì cứ ba tháng có một chuyến tiếp tế cho Hoàng Sa bằng tàu HQ loại 400, có thể là tiếp tế nước, thực phẩm, vũ khí hay thay đổi nhân viên. Trong ba tháng mình không có ra đó thì mình hầu như không biết tình hình ngoài đó như thế nào.”
••• Trần Thế Đức: “… chiến hạm HQ 16 có sứ mạng vận chuyển một số quân nhân (một Trung đội) và bốn nhân viên dân chính thuộc nha khí tượng ra thay thế các quân nhân và công chức đã trấn giữ tại đảo này từ ba tháng trước. Đây là những công tác bình thường của hải quân VNCH.”

Sống ở ngoài này hoàn toàn lệ thuộc vào sự tiếp tế từ đất liền. Lúc đi, phải chuẩn bị thức ăn đầy đủ trong ba tháng…Khi trao trả cho Việt Nam, tàu cứ ba tháng ra một lần.

Còn các binh sĩ khác, cũng như nhân viên khí tượng, ngoài quần áo đem theo, phải đem theo đồ ăn đủ trong ba tháng. Từ đây tới ba tháng sau không hề có chuyến tàu nào từ đất liền chạy ra, trừ phi có chuyện khẩn cấp.” [28]

••• Vietnamnet: “…Cứ 3 tháng 1 lần tàu luân phiên đưa lính ra đảo để bảo vệ.” [31]           

Các bài viết trên cho thấy là các chuyến công tác định kỳ thay thế Trung đội Địa phương quân và nhân viên đài khí tượng trên đảo HS đã được thực hiện mỗi 3 tháng một lần, đôi khi vì lý do thời tiết có thể kéo dài thêm. 
d.- Nhận xét về toán phòng thủ:

••• Trần Thế Đức trong bài viết “Hoàng Sa qua những nhân chứng”:          
   •“…. Người Pháp canh phòng đảo rất kỹ. Họ dùng xà-lúp đi tuần quanh các đảo luôn luôn. Chân cầu tàu bây giờ còn vết tích căn nhà để xà lúp. Họ xua đuổi các tàu bè lại gần đảo. Đuổi mà không đi là họ bắn ngay.

Về sau, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt-Nam Cộng Hòa có nhiệm vụ bảo vệ các đảo còn lại. Sau đó số quân đóng trên đảo Hoàng-sa (Pattle), Hữu-nhật (Cam tuyền, Robert), Quang-ảnh (Vĩnh-lạc, Money) Quang-hòa (Duncan), Duy mộng (Drummond) và các đảo khác rút xuống còn một đại đội thuộc tiểu đoàn 42/162… Thủy Quân Lục Chiến có đầy đủ phương tiện (ca-nô, xăng nhớt…) nên họ cũng đi tuần, canh phòng thường xuyên.   
   •“….Ngày 5-10-1959, tỉnh đoàn Bảo-an thuộc tỉnh Quảng-nam có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quần đảo. Tỉnh đoàn cử 43 Bảo-an viên ra thay đại đội Thủy Quân Lục Chiến giữ các đảo trên. Tuy vậy, trên đảo Hoàng-sa (Pattle) vẫn còn một trung đội Thủy Quân Lục Chiến gồm 30 người.
(LTG: toán TQLC rút khỏi HS vào cuối năm 1963.)

Binh sĩ Bảo-an sau này đổi tên thành Địa phương quân, thuộc tiểu khu Quảng-nam. Địa phương quân phương tiện eo hẹp, không có ca-nô đi kiểm soát các đảo, nên coi như chỉ trấn đóng trên đảo Hoàng-sa (Pattle) mà thôi.

Về sau, số quân giảm xuống, chỉ còn một trung đội, do một trung úy hoặc thiếu úy chỉ huy. Người mới ra đảo Hoàng-sa (Pattle) nhìn vào tình trạng quân sự đó thật là lo ngại. Không có phương tiện kiếm soát các đảo khác nên không biết kẻ lạ làm những chuyện gì đó trên đảo. Đảo lại không có phương tiện truyền tin với các tàu (cờ, đèn hiệu…) nên muốn ra lệnh cho các tàu cũng không được….

Viên sĩ quan địa phương quân không rành về mặt biển, không biết các loại tàu.”   
   •“…Những gắp đạn M16 trên thắt lưng thật là nặng nề. Thôi! Gửi lại vùng đất chiến tranh, chỉ đem tượng trưng vài gắp mà thôi. Còn khẩu súng nữa. Có lẽ còn lâu lắm, khi trở về đất liền nó mới được dùng tới. Trên biển cả mênh mông này chỉ quí nhất là chất nổ: nào lựu đạn, béta, plastic. Họ đem theo càng nhiều càng tốt. Đó là nguồn cung cấp thực phẩm trong những ngày sống lênh đênh trên hải đảo.

Nhóm người trên tàu ấy gồm một trung-đội địa-phương quân thuộc tiểu khu Quảng-nam, dưới quyền chỉ-huy của một Trung-úy trung đội trưởng. Họ phần lớn là những người bị trừng phạt, gom góp lại trong tiểu khu, không phải là một đơn vị thuần nhất. Cuộc sống quạnh hiu giữa trời, mây, nước sẽ làm họ nghĩ về nội tâm mà ăn năn, sửa đổi?” [28]     
•••
HQ Đại tá Hà Văn Ngạc: “Xét về sự phòng thủ, so sánh với đảo Thái Bình trong vùng Trường Sa thì thế bố trí trên đảo Hoàng Sa của VNCH đã thua kém rất xa, và không thể đủ sức để cố-thủ chống lại một cuộc cường-kích thủy-bộ. Trên đảo không có công sự nặng, chỉ có khoảng một trung-đội địa-phương-quân với vũ khí cá nhân và một vài quan sát viên khí tượng.” [4]

••• HQ Đại úy Trần Kim Diệp/TP/Tình Báo/BTL/HQ/V1DH: “…Riêng về đội quân trấn đảo, tiếng là “trấn thủ” nhưng thực ra là đi tù. Họ gồm 22 quân nhân diện vô kỹ luật thuộc những Đại đội ĐPQ của Quân khu 1, do 1 viên Sĩ-Quan cấp bậc Tr/úy cũng vô kỹ-luật được chỉ định làm trưởng toán (đây là điều sai lầm vô cùng to tát của các cấp lãnh đạo đã xem nhẹ và để mất quần đảo qúy báo này). Vì là thành phần bị đi đày nên trong thời gian từ 3 đến 6 tháng ở đảo, họ không hề có tôn ti, cấp bậc mà sống theo “luật của kẻ mạnh” và tất cả vũ khí đều phải cất vào kho để tránh trường hợp họ dùng để thanh toán nhau.” [29]

••• Thiếu tá Phạm Văn Hồng: “Với quân số ít oi và vũ khí cũng không có gì mạnh mẽ lắm, mỗi người chỉ có vài gắp đạn nên bắn mấy lần là hết đạn.” [30]

“Mặt khác anh em Ðịa Phương Quân Quảng Nam này gần như là những người “bị đày” ra đảo, vì hầu hết họ là những quân nhân vô kỷ luật, bị phạt nhiều ngày, gom từ nhiều đơn vị. Nhưng ra đây binh sĩ được an toàn hơn là ở trong đất liền đi hành quân, hầu như hết thời gian là để vui chơi, ăn uống và ngủ nghê “dưỡng sức.” Chính Trung Úy Phạm Hy cũng thú nhận mình là một sĩ quan bị kỷ luật nên mới phải đổi ra đây. Cũng để tránh những việc không hay xẩy ra cho đám lính “ba gai,” giá súng được ông trung đội trưởng khóa kỹ.” 
(Huy Phương ‘Nhân tháng giêng, kể chuyện Hoàng Sa, Nhật báo Người Việt 20 tháng 1-2012)

••• Cựu ĐPQ Phạm Khôi: ông cùng đồng đội xuống tàu tại quân cảng Đà Nẵng để ra Hoàng Sa vào đêm 23 tháng Chạp năm 1969: “... Nói tiếng là bảo vệ, nhưng ra đảo Hoàng Sa anh em lính tụi tui ban ngày đi câu, ban đêm ngủ. Đảo Hoàng sa thời đó yên bình lắm…” [31]

••• Gerald Kosh: “…toán Địa phương quân trên đảo HS đã được chỉ huy rất yếu kém, không cố gắng để sự phòng thủ có hiệu quả. Sau khi họ đầu hàng, lính TC đã tỏ vẽ ngạc nhiên khi biết là toán lính ĐPQ chỉ có phân nữa được trang bị vũ khí cá nhân.” [2]  

                      Sự lơ là trong việc phòng thủ đảo Hoàng Sa và bỏ ngõ các đảo còn lại trong nhóm Nguyệt Thiềm đã là cơ hội hiếm qúy cho TC thực hiện giấc mộng chiếm đoạt trọn vẹn quần đảo Hoàng Sa.    

                         NHIỆM VỤ CỦA TUẦN DƯƠNG HẠM LÝ THƯỜNG KIỆT HQ 16       
Sự hiện diện của HQ 16 trong chuyến công tác đặc biệt ra HS là một sự bất ngờ đối với TC và đã làm thay đổi dự tính của chúng.


Việc xác nhận mục đích chuyến công tác của HQ 16 cũng là điểm rất quan trọng vì nó xác định rõ rệt ý định của TC.

- Đề đốc Trần Văn Chơn Tư lệnh Hải quân:  “… nhân viên dân sự Hoa Kỳ cùng đi với phái đoàn Công binh của Quân khu1/Quân đoàn 1 để nghiên cứu xây cất phi trường tại Hoàng Sa.” [4]

- Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại TL/HQ/V1DH: “… Tôi gởi chiến hạm ra ngoài đó chỉ để thăm viếng. Ngày hôm đó tôi gởi tàu đi vì Tướng Trưởng dự định một ngày nào ra thăm đảo. Ông không biết là ông có thể đáp máy bay xuống đảo được hay không. Tôi muốn chắc chắn là điều này có thể được, bởi vì tôi không nghĩ là bất cứ máy bay nào cũng có thể đáp xuống đảo Hoàng Sa. Nhưng tôi vẫn gởi tàu ra ngoài đó để xem chúng tôi có thể xây một phi đạo hay một cái gì giống như vậy.” [32]     
Ngoài ra ông đã xác định về trường hợp của G.Kosh:

“Ngày hôm đó, Tướng Trưởng muốn biết là chúng tôi có thể xây một phi đạo ngoài đó, hay cái gì đó giống như vậy. Vì thế, ông yêu cầu Phòng 3 (phòng hành quân) thuộc BTL/QĐ1gởi người. Và rồi đã xảy ra chuyện Trưởng phòng 3 gọi viên chức đối tác của mình là ông Tổng Lãnh sự. Sau đó ông Tổng Lãnh sự hỏi anh ấy có muốn đi ra HS cùng với vài Sĩ quan của phòng 3. Và rồi ông Tổng Lãnh sự gởi anh ta đi theo để chụp hình.

Tất cả là như vậy, anh ta đi chỉ để cho vui.

Anh ta đến gặp tôi, tôi quên tên anh ấy. Tôi không biết là chúng tôi sẽ có một trận chiến hay điều gì giống như vậy. Bởi vì chiến hạm được dự trù trở về ngày hôm sau.

Tôi biết là sự hiện diện của anh ta ở ngoài đó đã làm rắc rối cho nhiều người. Nhưng chuyện này đã không được dự tính chút nào. Anh ta chỉ ra ngoài đó cho vui, không hẵn đúng là để vui, nhưng để thăm đảo.”
[Tuy nhiên trong ‘Can trường trong chiến bại’ ông viết khác đi:      
“Vào ngày 15 tháng 1, năm 1974, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ 16), hạm trưởng là trung tá Lê văn Thự, được lịnh của Bộ Tư Lịnh Vùng I Duyên Hải đưa địa phương quân thuộc tiểu khu Quảng Nam và nhân viên khí tượng ra Hoàng Sa để thay thế toán đang ở ngoài đó đã hết nhiệm kỳ.”] [32]           
NHẬN XÉT: không tìm thấy bất cứ tài liệu nào đề cập đến việc thay thế toán ĐPQ và nhân viên khí tượng! Nếu có, toán thay thế lên tàu và lên đảo lúc nào? Và còn toán được thay, họ lên tàu lúc nào và làm gì trong suốt thời gian ở trên HQ 16?     
- HQ Đại tá Phạm Mạnh Khuê Tham mưu trưởng Hành quân/Biển: “Ngày 14/1/74 Bộ Chỉ Huy Hành Quân Biển chỉ thị Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải cho một chiến hạm đến đảo Hoàng Sa với nhiệm vụ quan sát tình hình đồng thời đồng thời đón ông Trưởng Ty Khí Tượng bị trọng bệnh về Đà Nẵng. Tháp tùng theo chuyến đi có ba Sĩ Quan và nhân viên thuộc Bộ Tư Lệnh/Quân Đoàn I/Quân Khu I và một nhân viên Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Đà Nẵng là ông Gerald E.Kosh.” [4]       
NHẬN XÉT   
•••
nếu được lịnh quan sát tình hình, HQ 16 sau khi đưa toán Công binh lên đảo, chiến hạm phải di chuyển ngay đến các đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm để quan sát, ngược lại HQ 16 lại thả trôi gần đảo Cam Tuyền để chờ toán Công binh trở lại tàu.           
••• không tìm thấy bất cứ tài liệu nào liên quan đến ông Trưởng ty Khí tượng bị trọng bệnh.          
- HQ Đại tá Hà Văn Ngạc: “Trong khi đó việc Hải Quân Việt Nam phát hiện sự hiện diện của họ chỉ có từ khi Tuần dương hạm HQ 16 được lệnh đến thăm viếng định kỳ và chở theo phái đoàn Công binh Quân đoàn I ra thám sát đảo để dự trù việc thiết lập một phi đạo ngắn.” [4]

- HQ Trung tá Lê Văn Thự Hạm trưởng HQ 16: “Ngày 15 tháng 1 năm 1974 tàu tôi, HQ 16, được lệnh ra công tác đảo Hoàng Sa, chở theo một cố vấn Mỹ và một Thiếu tá Bộ binh thuộc Quân đoàn 1 ……. Trong khi chờ đợi đưa Thiếu tá Bộ binh về lại Đà Nẵng, tôi vận chuyển tàu rời đảo Hoàng Sa ra biển, thả trôi tàu gần đảo Quang Hòa (LTG : đúng ra là đảo Cam Tuyền). Tôi lấy ống nhòm nhìn lên các đảo chung quanh để ngắm nhìn phong cảnh và tiêu khiển thì giờ.” [33]

- HQ Đại úy Đào Dân: “… Sáng mai, HQ 16 phải chở ra HS một phái đoàn của Bộ Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, nhằm khảo sát để thiết lập một phi trường cho C130 có thể đáp…. Phái đoàn gồm 6 người: 1 thiếu tá trưởng đoàn, 1 cố vấn Mỹ mặc áo dân sự, 2 trung úy cùng 2 trung sĩ thuộc ngành công binh …   Buổi sáng ngày 16 tháng 1 năm 1974, chúng tôi chở 6 người của phái đoàn lên đảo rồi sau đó đem xuồng về tàu… và theo dự trù sau vài ngày, chúng tôi sẽ vào đón họ để đưa trả họ lại cho Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Chiến Thuật” [34]

- Thiếu tá Phạm Văn Hồng: “…buổi sáng 15-1-74 tôi nhận lệnh thượng cấp ra đảo Hoàng Sa để thiết lập một phi trường quân sự…Ngoài tôi làm toán trưởng, còn có một Trung úy Liên đoàn 8 Công binh Kiến tạo, một Trung úy Liên đoàn 10 Công binh Chiến đấu, hai Hạ sĩ quan đi theo hai Trung úy và ông Kosh, như vậy toán chúng tôi có tất cả 6 người đặt chân xuống đảo.” [30]

- HQ Đại úy Lê Văn Thự Trung tâm trưởng Trung tâm Hành quân (TTT/TTHQ) V1DH trong thời gian xảy ra trận hải chiến HS: “... ngày 15-1-1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 của Hải quân VNCH khởi hành ra HS. Chiến hạm chở theo phái đoàn Công binh của Quân đoàn I, có nhiệm vụ khảo sát và nghiên cứu để xây một phi trường cho loại phi cơ vận tải cỡ nhỏ có thể đáp và cất cánh…” [35]
- HQ Đại úy Trần kim Diệp: “…tôi nhận lệnh của Phó Đề đốc Tư lệnh HQ/V1ZH đi công tác đảo Hoàng Sa. Chúng tôi trực chỉ Hoàng Sa bằng phương tiện Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 với nhiệm vụ là thám sát đảo Hoàng Sa để nghiên cứu lập một phi đạo cho vận tải cơ C7 Caribou.” [29]

- Ngoại Trưởng HK Henry Kissinger nói về trường hợp của G. Kosh trong buổi gặp mặt Đại sứ TC Han Hsu tại Bộ Ngoại giao sáng ngày 23 tháng 1-1974 như sau: “…Ông ấy đã có mặt ở đó theo yêu cầu của người Việt Nam có liên quan tới một số nhiệm vụ kỹ thuật tạm thời, điều này chính xác bởi vì chúng tôi nghĩ rằng đó là một giai đoạn yên ổn. Ông định chỉ ở lại một ngày hay như vậy, rất ngắn gọn, sau đó ông thấy mình bị bắt. Không người Mỹ nào có mặt thường trực hoặc ngay cả tạm thời trên các quần đảo này. Đây là một sự việc đáng tiếc.” [22]

- Đại Sứ Martin: trong điện thư mật gởi cho Tướng Brent Scowcroft thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia HK (NSC- National Security Council): “ … thật là không may, Chỉ huy trưởng lực lượng hải quân VN vì cố gắng tránh sự can dự hoặc nguy hiểm cho nhân viên dân sự HK Gerald Kosh - người đã tháp tùng toán công binh để nghiên cứu về việc có thể xây một phi đạo ở Hoàng Sa - đã di chuyển Kosh khỏi tàu, đưa lên đảo Hoàng Sa, ở đó Kosh được xem như là tránh khỏi hiểm nguy.” [36]

Trong cùng ngày, điện thư gởi về BNG/HK, Martin xác nhận: “Sự hiện diện của anh ấy chắc chắn không phải ngẫu nhiên, nhưng là sự chấp nhận lời mời từ chánh phủ Việt Nam để quan sát trên chuyến công tác được xem như là tuần tiễu thường lệ là bằng chứng thuyết phục cho thấy rằng ngay cả VNCH hoặc chánh phủ Hoa Kỳ không ai dự đoán khả năng hành động của Trung Cộng.” [36a]

Và trong điện thư khác ông cho là: “Sự hiện diện của Kosh ở Hoàng Sa hoàn toàn là một tai nạn của không gian và thời gian, và chúng ta không có bất cứ điều gì để xin lỗi.” [36b]

- Gerald E. Kosh: “tháp tùng HQ 16 ra HS với một toán đặc nhiệm HQ có ý định thám sát các đảo (đặc biệt là đảo Hoàng Sa) và quan sát hoạt động của TC trong vùng.” [37]

- Vũ Hữu San & Trần Đỗ Cẩm:

• trang 84: “…TDH Lý Thường Kiệt HQ 16 ra Hoàng Sa với nhiệm vụ chính chở phái đoàn Công Binh thám sát thiết lập phi trường, tình cờ phát hiện ngư thuyền và quân TC trong vùng.”

• trang 36 tác giả lại viết khác: “Để bảo vệ chủ quyền chính đáng tại Biển Đông, ngày 15-1-74, BTL/ HQ VIDH ra lệnh cho HQ-16 trực chỉ Hoàng Sa để tăng cường cho lực lượng trú phòng, đồng thời dùng biện pháp ôn hòa yêu cầu lực lượng Trung Cộng rời khỏi lãnh hải VNCH.” [38]

                  
Ngoài ra công điện thượng khẩn do DAO/Sài Gòn gởi về HK sau khi nhận báo cáo từ TTHQ/BTL/HQ lúc 6 giờ chiều ngày 15/01 có nội dung: “Lúc 5 giờ chiều ngày 15 tháng 1, chiến hạm HQ 16 của HQVN neo ở hướng đông đảo Cam Tuyền cách bờ 100 m đã phát hiện tàu TC neo gần đảo Cam Tuyền, cách bờ 100 m. Tàu TC là loại tàu đánh cá khoảng 100 tấn, trang bị một số antenna. Trên đảo Cam Tuyền có cờ TC. HQ 16 dùng quang hiệu yêu cầu tàu TC đi khỏi nhưng chúng không trả lời.” [39]         

Và theo HQ Đại úy Đào Dân diễn tả trong bài viết của ông: “….Tôi nhận quart trưa 1200 - 1500H.         Không có việc gì làm, chỉ theo dõi tình trạng trôi của tàu, nếu cần điều chỉnh lại chút đỉnh. Việc đổ bộ đã hoàn tất vào buổi sáng. Hạm trưởng xuống nghỉ trưa. Các sĩ quan phụ tá và nhân viên đi quart tụ lại nói chuyện phiếm…Bỗng tôi chú ý ở trước mặt đảo Robert, ngang hông chiến hạm, một chiếc tàu đang lửng lơ bên cạnh đảo. Chiếc tàu nhỏ, cỡ bằng những chiếc tàu đánh cá Ðài Loan mà tôi thường gặp trong vùng biển cận duyên. Tôi cũng cho đây là tàu đánh cá, nhưng hơi lạ là nó vào sát bờ quá.” [34]
             
                           Qua dẫn chứng từ các nhân vật liên hệ trực tiếp và gián tiếp đến biến cố Hoàng Sa, thêm vào đó với công điện sưu tầm được, đã cho thấy là chuyến công tác của HQ 16 ra Hoàng Sa là một chuyến công tác đặc biệt, kéo dài khoảng 4 ngày (đi và về) với nhiệm vụ chính yếu là đưa toán Công binh lên đảo Hoàng Sa để nghiên cứu khả năng thiết lập một phi đạo dành cho phi cơ vận tải loại nhỏ sử dụng.

Ngoài ra còn xác nhận một cách rõ rệt là HQ 16 tình cờ đã phát hiện tàu TC neo gần đảo Cam Tuyền, trên đảo có cờ TC;  đồng thời cho thấy một sự kiện hiển nhiên là chiến hạm đã không nhận được lệnh hoặc chỉ thị đặc biệt nào khác của BTL/VIDH từ lúc rời Đà Nẵng cho đến khi hoàn tất công tác đưa toán 7 người lên đảo HS.

                                                             Ý ĐỒ CỦA TRUNG CỘNG        
Chiếm đoạt trọn vẹn Hoàng Sa là ý đồ mà Trung Cộng đã ôm ấp từ lâu và chúng chỉ chờ đợi thời cơ thuận lợi để soạn thảo kế hoạch thực hiện.         
1- Công tác dọ thám và điều nghiên

Trong bài viết này, tác giả xin được viện dẫn những ghi nhận rất trung thực của 4 nhân chứng đã có mặt trên đảo Hoàng Sa.

- Trần Thế Đức: “…Người Việt vốn quí khách. Khách tới, đi ca nô hay xuồng nhỏ vào đảo là được tiếp niềm nở. Nhất là những lúc khách gặp cơn hoạn nạn (cần nước ngọt, gặp bão) lại cần phải sốt sắng cứu giúp. Chủ và khách đều vui vẻ. Khách chân thật, không có gì đáng e ngại, vì khách thường từ các tàu cá tới, lại không có khí giới gì cả. Chủ lại được tự do xuống tàu xem nữa. Nhưng ôi thôi! Mấy chiếc tàu cá đó thối lắm! Xuống làm chi! Quen với những kẻ lạ thường xuyên tới, anh em chẳng bận tâm đến họ. Họ có thể lên đảo nghỉ ngơi hoặc chạy nhảy cho khỏi chồn chân tắm nước ngọt ở giếng. Họ có thể đem lưới và cá lên đảo phơi nữa, nhất là trên đảo Hữu Nhật (Cam Tuyền, Robert). Nghỉ ngơi xong, họ lại xuống tàu, nhổ neo đi. Sống quạnh hiu trên đảo, bỗng dưng có người tới thì cũng vui. Chủ và khách không cùng ngôn ngữ, nhưng rồi cũng hiểu nhau. Khách lạ tới là những lúc vui vẻ. Mà chủ cũng mong khách tới nữa. Khách thường rất rộng rãi: đổi vài thùng nước lấy thuốc lá, đồ ăn tươi, rau, trái cây lạ, quả là hời giá.” [28]

- HQ Đại úy Trần Kim Diệp: “…Một số quân nhân trên đảo còn cho tôi biết là trước đó vài hôm một số người Tàu đã lên đảo đổi chác thuốc hút và nước uống.” [29]    
- Thiếu tá Phạm Văn Hồng: “… Để nắm vững tình hình trên đảo về quân số cũng như cách bố phòng của ta, vào khoảng đầu tháng 10 năm 1973, thời điểm tháng 10 thường hay có mưa bão xảy ra ở vùng biển Đà Nẵng, nên Trung cộng cho một chiếc tàu giả dạng tàu đánh cá vào đảo xin tránh bão. Việt Nam Cộng Hòa mình vốn có tính nhân đạo và thật thà, thấy họ xin núp bão thì đồng ý ngay, lại còn tiếp tế cho họ nước uống nữa, chúng làm bộ thân thiện với ta, tặng cho anh em quân nhân những bộ bài có hình khỏa thân, và rủ lính của ta chơi trò “trốn tìm”, mục đích là dò xem mình có hầm hố gì không, nhưng các anh em Địa Phương Quân của ta đâu có ngờ, đó là mưu mô “thám sát” của lính Tàu. Vì thế khi chúng tấn công lên đảo, chúng đã nắm rõ quân số của ta có bao nhiêu người, vũ khí ra sao, có hầm hố chiến đấu hay không, còn ta, ta không biết gì về địch. Lực lượng hai bên quá chênh lệch như thế nên chúng ta bị thất bại là lẽ đương nhiên.” [30]   
- Toà Đại Sứ Hoa Kỳ: tài liệu của TĐS/HK gởi về BNG/HK trong tháng 10-1973 dựa trên nguồn tin từ Hải quân Việt Nam xác nhận là đã xảy ra vài lần giao thiệp có tính cách xã giao giữa lực lượng hai bên trong quần đảo HS trước tháng 10-1973.    
         

 
- Tài liệu của Bộ Lục quân/HK/Phòng Tình báo:
(tổng hợp qua tường thuật của Gerald Kosh)   “…Từ cách thức cuộc tấn công đổ bộ đã được thực hiện, điều có thể nhận rõ ngay là TC đã nắm được tin tức tình báo chính xác về thành phần, sự bố trí và khả năng của lực lượng trú đóng VNCH trong nhóm Nguyệt Thiềm và địa thế trên từng đảo một. Sự thu thập dữ kiện thiết yếu phần lớn đạt được là do những “tàu đánh cá” thi hành như là các điểm chính yếu cho việc dọ thám.       
            Các “tàu
đ
ánh cá” TC đã được tự do ra vào trong hải phận của nhóm Nguyệt Thiềm từ nhiều năm qua. Vì các tàu đánh cá này bề ngoài có vẻ chú tâm vào hoạt động đánh cá thương mại nên sự hiện diện thường xuyên của họ trong hải phận của VNCH không bị cản trở. Ngoài các hoạt động đánh cá thực sự, những tàu đánh cá này còn phục vụ như là nền tảng cho việc thu thập tin tức tình báo. Với sự ra vào hoàn toàn không bị giới hạn đến các khu vực được lựa chọn là mục tiêu tối hậu, thủy thủ đoàn của các “tàu đánh cá” đã có cơ hội chụp hình mỗi đảo, cập nhật hóa trên hải đồ những vùng nước cạn, theo dõi các hoạt động của VNCH và thám sát các bãi đổ bộ sử dụng sau này.

Gerald Kosh đã được người Việt Nam trú đóng trên đảo Hoàng Sa cho biết là nhiều lần trong khoảng mùa Thu năm 1973, một phái đoàn thiện chí TC đã đổ bộ lên đảo. Mỗi lần như vậy, một toán đổ bộ từ tàu đánh cá lên đảo và tặng quà “như thực phẩm và nước uống” cho toán lính VNCH trú đóng trên đảo. Mặc dù bày tỏ mục đích thân thiện qua những lần thăm viếng nhưng qua sự quen thuộc với địa hình của đảo Hoàng Sa mà lực lượng tấn công đã chứng tỏ, cho thấy một cách hùng hồn là những phái đoàn “thiện chí này thật ra chỉ là những toán thu thập tình báo.” [40]   

Các dẫn chứng trên xác nhận là TC đã có ý đồ thôn tính HS từ lâu và bắt đầu thực hiện công tác dọ thám địa hình cùng khả năng phòng thủ của toán ĐPQ trên đảo Hoàng Sa kể từ mùa hè 1973.      

2.- Công tác thao dượt

Sau khi thu thập đầy đủ các dữ kiện cần thiết, TC bắt đầu soạn thảo và thực hành kế hoạch thao dượt.

Tài liệu mật của Phòng Tình báo/Bộ Lục quân Hoa Kỳ tiết lộ các hoạt động bí mật của tàu đánh cá vũ trang TC đã được phi cơ không thám HK ghi nhận trong khoảng thời gian có thể bắt đầu từ tháng 9/1973 cho đến tháng cuối năm 1973 như sau :

“…….. Có bằng chứng cho thấy sớm nhất là vào khoảng trung tuần tháng 12 và có thể trước đó vào khoảng tháng 9, TC đã tích cực huấn luyện lực lượng tấn công của họ cho cuộc hành quân vào ngày 20 tháng 1 năm 1974. Trong thời gian 10 ngày, khoảng hạ tuần tháng 12, 6 tàu đánh cá (loại tàu đánh cá NanYu mang số 401, 402, 405, 406, 407 và 408) đã được quan sát hoạt động từ hải cảng và cũng là căn cứ hải quân Bắc Hải (Pei Hai). Những tàu đánh cá hoạt động từng cặp rời hải cảng vào mỗi buổi sáng và trở về vào mỗi buổi chiều.  
    - Những chứng cớ dưới đây cho thấy một cách rõ ràng là hoạt động này dùng vào việc huấn luyện cho lực lượng đổ bộ: 
            a) Có ít nhất 100 người trên boong mỗi tàu. Thủy thủ đoàn của tàu đánh cá ít khi trên 15 người. Như vậy việc một chiếc tàu chở nhiều hơn 100 người là một chuyện bất thường.  
            b) Có ít nhất 2 trong số các tàu đánh cá này - chiếc mang số 402 đã được Việt Nam nhận dạng và chiếc mang số 407 đã được cả Kosh lẩn Việt Nam nhận dạng - được sử dụng làm tàu đổ quân cho ngày 20 tháng 1 tấn công đổ bộ.    
            c) Có ít nhất 4, mặc dù có thể là 6, tàu đánh cá dùng làm tàu đổ quân cho cuộc tấn công đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa và con số (ít nhất) 100 người trên mỗi tàu (tổng cộng: ít nhất 600 người) phù hợp gần đúng với tổng số lực lượng đổ bộ ước lượng là 6 đại đội.  
            d) Một số khu vực có lối vào, bãi biển rất giống với vùng bao quanh các đảo Vĩnh Lạc, Cam Tuyền và Hoàng Sa cách Bắc Hải khoảng 2 giờ hải hành. Sự thiếu kinh nghiệm của Hải quân TC với loại hành quân này cộng với sự nguy hiểm rõ ràng khi hoạt động trong khu vực kế cận bãi đá ngầm khiến cho việc huấn luyện và tập dượt trong một khu vực với những địa thế tương tự là một điều tối cần.
            e) Các tàu đánh cá quan sát ở Bắc Hải và những chiếc đã tham dự trong cuộc tấn công đổ bộ đã hoạt động từng đôi.         
Mặc dù hoạt động này được quan sát trong tháng 12 nhưng có thể là những sự chuẩn bị cho cuộc hành quân tháng 1 thật ra đã được khởi sự vài tháng trước đó. Trong tháng 9, TC đã ban hành các biện pháp an ninh trong căn cứ hải quân Bắc Hải. Những biện pháp này không những được áp dụng nghiêm ngặt hơn những biện pháp thông thường trong vùng mà nó còn khắt khe hơn tất cả các hải cảng khác của TC trong cùng thời gian. Lý do cho sự thận trọng bất thường này không được rõ nhưng có lẻ là liên quan đến các sự chuẩn bị tấn công đang tiến hành ở căn cứ hải quân.”
[40]

 

3.-Soạn thảo và thi hành kế hoạch hành quân

Kế hoạch của TC đã được soạn thảo rất chi tiết và kỹ lưỡng, dự trù 2 trường hợp chiếm đoạt HS.
                                         
a.- Áp d
ụ
ng kế hoạch #1: âm thầm, hạn chế dùng vũ lực. 
Trong báo cáo gởi lên Nixon sau chuyến đi Bắc Kinh tháng 11-1973, Kissinger tóm lược một trong các điểm quan trọng: “Trung Cộng công nhận lập trường của Tổng thống là một sự bùng nỗ quân sự ở Đông Dương sẽ có ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích chung của cả hai.” (FRUS trang 460 volume XVIII, China 1973-1976)

Trước những diễn tiến thuận lợi và tốt đẹp cho mối giao hảo HK-TC trong tương lai, dĩ nhiên Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai không dại gì làm phiền lòng HK, nhất là khi TC đang xem Nga Sô là kẻ thù.  

Do vậy kế hoạch chiếm đoạt HS một cách âm thầm và hạn chế dùng vũ lực trong mọi trường hợp đã được TC xem là chủ yếu.

Phương thức này đã được TC quyết định thi hành đầu tiên. 
Nếu không bị phát giác, theo kế hoạch tằm ăn dâu, chúng sẽ chiếm đoạt HS một cách êm thắm.


Như đã trình bày, với sự điều nghiên cẩn thận, TC đã biết trước lịch trình thay đổi Trung đội ĐPQ và nhân viên đài khí tượng trên đảo HS. Chúng đã quan sát chuyến thay quân cuối cùng xảy ra vào cuối tháng 11/1973 [28]. (theo TĐS/HK thì vào ngày 30/10/1973 [41])        

Nh
ư
vậy chuyến công tác thay đổi toán quân sắp đến theo chu kỳ 3 tháng sẽ xảy ra sớm nhất là vào khoảng đầu tháng 3-1974 hoặc trễ hơn. 

Do vậy, ngay sau lần thao dượt sau cùng vào khoảng hạ tuần tháng 12/1973 chấm dứt, chúng đã tiến hành kế hoạch xâm lược vào đầu tháng 1/1974 trước khi đột ngột tuyên bố chủ quyền trên tất cả các hải đảo trong vùng Biển Đông vào ngày 11/01/1974. 

Khởi đầu TC đưa quân lên chiếm đóng hai đảo không người là Quang Hòa, Duy Mộng cách đảo Hoàng Sa về hướng đông hơn 8 hải lý (khoảng 15 km). “Thế cho nên khi chúng tôi phát hiện, thì quân đội Trung Cộng đã chiếm 2 đảo Duy Mộng và Quang Hòa không biết đã bao lâu rồi. Trên đảo Quang Hòa chúng đã đặt đài quan sát, chòi canh, xây dựng doanh trại gắn cờ Trung Cộng.” [4] [34]         
HQ Trung úy Trương Văn Liêm trong bài “Tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ 5 và Hoàng Sa 19/01/1974” đã có nhận xét tương tự: “Trên đảo, ta nhận thấy công sự chiến đấu và giao thông hào bằng cement đã được xây cất. Cờ TC bay phất phới.”


Củng cố Quang Hòa và Duy Mộng xong, chúng tiến dần qua Cam Tuyền và Vĩnh Lạc. Theo tin tức từ đài khí tượng trên đảo HS [4] (trang 298) và được ghi nhận trong nhật ký TTHQ/HQ thì tàu đánh cá 402 đã đến khu vực đảo Cam Tuyền từ ngày 10/01/1974 và trong cùng thời gian, tin mật của Mỹ cho biết không tuần Mỹ phát hiện ra một số đảo có cờ TC và có loáng thoáng 1, 2 chiếc tàu TC [51] (trang 389)       .
(Ngày 17-01, HQ 4 đưa toán Biệt hải đổ bộ lên đảo Cam Tuyền đã tìm thấy 1 tấm bảng bằng gỗ thông sơn đỏ còn mới có ghi 17 chữ Hán, chứng tỏ TC đã có mặt trên đảo Cam Tuyền trong khoảng thời gian này. [4])          
Trưa ngày 15/01, HQ 16 tình cờ phát hiện cờ TC trên đảo Cam Tuyền và tàu đánh cá của chúng neo gần đảo, qua hôm sau 16/01,
HQ 16 ghi nhận tại Tây Nam đảo Cam Tuyền tàu đánh cá 407 đang dùng xuồng di chuyển khoảng 1 trung đội sang chiếc 402 [4] (trang 299).

Từ những dẫn chứng trên đã cho thấy điểm quan trọng trong kế hoạch này của TC là chúng chỉ cần sử dụng một lực lượng tối thiểu, do vậy hai tàu đánh cá số 402 và 407 mỗi chiếc mang theo từ 30 đến 35 lính ngụy trang (tổng cộng khoảng hai Trung đội) được xem như là thành phần chính yếu.

                   Nếu như không có chuyến công tác đặc biệt của HQ 16, với lực lượng ĐPQ trên đảo Hoàng Sa quá yếu ớt, kỷ luật lỏng lẻo, vũ khí thiếu thốn, quá dễ dãi và thân thiện không phân biệt đâu là bạn, đâu là thù….chỉ cần một hoặc hai tàu đánh cá ngụy trang giả vờ lên bờ thăm viếng thiện chí như đã từng thực hiện trước đây, chúng sẽ dễ dàng áp đảo toán ĐPQ để chiếm đoạt đảo Hoàng Sa.


Sau đó TC sẽ mang quân lên chiếm đóng và thiết lập hệ thống phòng thủ trên tất cả các đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm.


Như vậy chúng sẽ chiếm Hoàng Sa một cách êm thắm và đặt VNCH trước chuyện đã rồi.   

HQ Đại tá Nguyễn Xuân Sơn Tư lệnh Hạm đội trả lời trong cuộc phỏng vấn:        
“Tôi không nghĩ Trung Quốc muốn chiếm trọn khu vực, tôi nghĩ là họ chỉ muốn chiếm những đảo không có ai chiếm đóng. Trong nhóm Nguyệt Thiềm có 5 đảo là Hoàng Sa, Cam Tuyền, Vĩnh Lạc, Quang Hòa và Duy Mộng, chúng tôi trú đóng trên đảo lớn là đảo Hoàng Sa. Hai đảo bị xâm chiếm là Quang Hòa và Duy Mộng cách 15 hải lý từ Hoàng Sa. Vì thế tôi nghĩ là họ chiếm các đảo này một cách êm thắm mà không làm tổn hại cho chúng tôi.          
(Dr. Oscar Fitzgerald phỏng vấn HQ Đại tá Nguyễn Xuân Sơn ngày 16 tháng 7 năm 1975)          

HQ Đại úy Đào Dân cũng nhận xét tương tự:          
“Theo tôi, sau ngày họp thượng đỉnh với Tổng thống Nixon tại Bắc Kinh. Trung Cộng bắt đầu có tham vọng bành trướng thế lực ở Biển Ðông. Việc chiếm đóng hai đảo Duy Mộng và Quang Hòa đã chứng minh điều đó. Tuy nhiên Trung Cộng không muốn dùng võ lực để giải quyết tranh chấp vì e ngại Mỹ, nên dùng chính sách tầm ăn dâu, nghĩa là điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa. Nghĩa là những đảo nào không có ai chiếm cứ, Trung Cộng sẽ đến thiết lập các căn cứ, và mọi chuyện sẽ trở thành chuyện đã rồi.” 

b.-Áp dụng kế hoạch #2: công khai, sử dụng tất cả phương tiện thích nghi tùy theo biến chuyển của tình thế.

      Kế hoạch #1 tưởng chừng đã thành tựu, không may chuyến công tác bất ngờ của HQ 16 phát hiện chúng lăm le đưa người lên đảo Cam Tuyền đã phá vỡ kế hoạch này.

Ngay sau đó, TC chuyển sang áp dụng kế hoạch #2 với các hoạt động:       
- Tiếp tục dò xét phản ứng của VNCH.        
- Tăng cường lực lượng tương ứng với phía ta.        
- Sử dụng chiến hạm cỡ nhỏ, dễ dàng xoay trở.

- Rút về bảo vệ khu vực đảo Quang Hòa và Duy Mộng.      
- Khiêu khích, nhưng không sử dụng vũ lực.
- Tăng cường quân lên đảo Quang Hòa.        
- Sử dụng lực lượng hổn hợp Hải Lục (và nếu cần sẽ có Không quân yểm trợ) đổ bộ quân lên chiếm trọn nhóm Nguyệt Thiềm.           
- Sử dụng một lực lượng trừ bị hùng hậu gồm 2 tàu ngầm loại Romeo, 8 ngư lôi đĩnh và 9 tuần duyên hạm túc trực trong khu vực đảo Phú Lâm để tung vào trận chiến khi cần hầu đảm bảo chiến thắng một khi xảy ra trận hải chiến và để đối phó kịp thời trong trường hợp VNCH gởi lực lượng tiếp ứng hoặc lực lượng tái chiếm các đảo đã bị mất.
“… Khi mà dữ kiện tình báo đã có đầy đủ để cho phép việc sửa soạn kế hoạch chi tiết cho cuộc tấn công đổ bộ. Các “tàu đánh cá” vẫn duy trì sự quan sát chặt chẽ các đảo đã được chọn làm mục tiêu. Qua sự theo dõi này, TC có thể phát giác và báo cáo những sự thay đổi lực lượng bộ binh VNCH và sau nữa là sự điều động chiến hạm của VNCH.” [40]

Theo Trần Kim Diệp và G. Kosh thì khi HQ 16 đến HS, họ đã thấy 2 tàu đánh cá TC lảng vảng trong khu vực phía đông nhóm Nguyêt Thiềm, và riêng Kosh quan sát thấy ít nhất có một lá cờ TC trên đảo Cam Tuyền, như vậy chứng tỏ là chúng đã có mặt trong khu vực đảo Cam Tuyền trước HQ 16. Tuy nhiên vì chúng hoạt động như những tàu đánh cá thông thường và vì chiến hạm không nhận được chỉ thị đặc biệt cần phải chú tâm đến chúng, hơn nửa nhiệm vụ chính yếu của chiến hạm là đưa toán Công binh lên đảo HS công tác, nên các SQ và nhân viên HQ 16 khi đang đi phiên trên đài chỉ huy ngang qua đảo Vĩnh Lạc và Cam Tuyền đã không báo cáo sự hiện diện của chúng về BTL/V1DH.

Về phần tàu đánh cá TC, ngay sau khi phát hiện HQ 16 tiến về đảo HS, chúng di chuyển đến huớng Tây đảo Cam Tuyền vì ở vị trí này từ đảo HS không nhìn thấy chúng.

Sau khi hoàn tất công tác, HQ 16 trở ra thả trôi gần đảo Cam Tuyền “lúc 02:40H ngày 15 tháng 1, HQ 16 phát hiện tàu đánh cá TC số 402, trọng tải khoảng 100 tấn neo gần đảo Cam tuyền và trên đảo có cắm cờ TC.” [41]

“Chiều ngày 15/01/1974, một ghe đánh cá Trung cộng chở người đến cắm cờ và dựng lều lên đảo Cam Tuyền (Robert) thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tuần dương hạm VNCH dùng quang hiệu đuổi họ rời khỏi đảo nhưng vô hiệu.” [42]     
Lúc bị HQ 16 tình cờ phát giác, TC chỉ mới bắt đầu đặt chân lên hai đảo Cam Tuyền và Vĩnh Lạc, chưa đủ thời gian xây dựng cơ sở, doanh trại.  

Tuyên cáo do thông tấn xã Xinhua của TC phổ biến có đoạn: “Khoảng 1 giờ trưa ngày 15 tháng 1, chiến hạm do chánh quyền Sài Gòn gởi ra đã có hành động quấy nhiểu và phá hoại tàu đánh cá Trung Hoa mang số 402 đang hành nghề gần đảo Cam Tuyền, bắn vào quốc kỳ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang cắm trên đảo và đuổi tàu Trung Hoa ra khỏi vùng biển của họ một cách vô cớ.” [43]


Trước sự hiện diện của HQ 16 trong ngày 15 và 16, TC vẫn không tăng cường lực lượng vì chúng chưa rõ ý định của ta. 
Ngày 17 tháng 1, lúc 07:45H, HQ 16 đổ bộ 15 người lên đảo Vĩnh Lạc.     
Không để mất Cam Tuyền, 2 tàu 402 và 407 chuẩn bị đưa lính lên đảo, nhưng chúng không ngờ lúc 15:00H HQ 4 cũng vừa được tăng phái đến vùng trực chỉ ngay đến đảo Cam Tuyền, lập tức hạ xuồng, nhanh tay hơn đưa 27 Biệt hải lên đảo trước chúng.        
Tránh đụng độ khi biết mình yếu thế, tàu TC nhổ neo ra xa. 

Đến thời điểm này, hiểu rõ âm mưu thôn tính trọn vẹn nhóm Nguyệt Thiềm bằng phương pháp ôn hòa đã bị bại lộ, TC lập tức điều động 2 chiến hạm loại Kronstadt (K) số 271 và 274.        
Ti
ếp theo, trưa ngày 18/01, ta tăng cường thêm HQ 5, buổi chiều cùng ngày, TC tăng cường thêm 2 chiếc T 43 mang số 389 và 396.

Dự trù trận hải chiến có thể sẽ xảy ra và để nắm chắc phần chiến thắng, TC đã điều động 4 Phi tiễn đĩnh Komar đến HS sáng ngày 19/01. 
Không nh
ững thế chúng đã sẵn sàng lực lượng tăng viện tại căn cứ hải quân Yulin và tại đảo Phú Lâm.  


Điểm cần ghi nhận ở đây là trong khi phía ta sử dụng các chiến hạm lớn nhất thuộc hạm đội thì ngược lại TC điều động các chiến hạm loại nhỏ và chỉ hạn chế số lượng tương ứng với ta. Điều này có thể giải thích bởi ba lý do:     
- Thứ nhứt: khu vực trong vùng lòng chảo quanh các đảo rất nhiều đá ngầm khó vận chuyển đối với các chiến hạm lớn khi lâm trận.         
- Thứ nhì: TC muốn tránh sự phát hiện của phi cơ không tuần và chiến hạm Đệ 7 Hạm đội HK hoạt động trong vùng. Tình báo HK rất ngạc nhiên bởi sự xuất hiện của một lực lượng đáng kể hải quân Trung Quốc trong quần đảo Hoàng Sa, do vậy đã không có sự báo trước hữu ích về hành động quân sự chống lại các đơn vị của chính phủ VN trước khi xảy ra trận hải chiến [44].   
- Thứ ba: đây là lý do quan trọng nhất, vì sẽ gây ấn tượng chủ quan cho cấp chỉ huy HQVN khi so sánh lực lượng hai bên do vậy sẽ không ngần ngại khi quyết định ra lịnh hành quân tái chiếm đảo Quang Hòa.
Nếu mang đến một lượng hùng hậu các cấp lãnh đạo quân và dân sự VNCH sẽ cân nhắc cẩn trọng và có lẽ sẽ lập tuyến phòng thủ thay vì đổ bộ tái chiếm đảo Quang Hòa.    
           
Và trong trường hơp này HK bắt buộc phải lên tiếng vì Mao trạch Đông đã đồng ý với Nixon: “Sự công nhận của Trung Quốc đối với quan điểm của Tổng thống là một sự bùng nổ quân sự ở Đông Dương sẽ có ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích chung của hai bên.”  

 

Mất cơ hội thực hiện ý đồ chiếm trọn nhóm Nguyệt Thiềm, TC rút lực lượng về phòng thủ hai đảo Quang Hoà và Duy Mộng mà chúng đã củng cố.      
            Đây là ranh giới đã vạch sẵn trong kế hoạch mà Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã chấp thuận.  
Bằng mọi giá TC nhất quyết bảo vệ hai đảo này, dù không chiếm trọn nhóm Nguyệt Thiềm, nhưng chiếm thêm được hai đảo Quang Hòa, Duy Mộng cũng được xem như là một sự thắng lợi để cũng cố quyền lực nội bộ.          

Và để nắm chắc phần chiến thắng một khi trận hải chiến bùng nỗ TC đã tăng cường chiến hạm tương xứng với lực lượng ta cũng như cấp tốc mang 4 Komar đến vùng.
Ngoài ra chúng tăng cường đổ quân lên Quang Hòa để ngăn chặn lực lượng ta tái chiếm đảo. Do vậy lúc 05:15H sáng ngày 19 tháng 1, TC đổ bộ 400 lính lên đảo Quang Hòa. 
(The battle for the Paracel Islands-BQP/HK ngày 21/01/1974)                    

Bài phân tích Bộ Quốc phòng/Hoa Kỳ (BQP/HK) cho là TC đã cân nhắc yếu tố chánh trị khi quyết định không tấn công lực lượng VNCH ngay trong lúc các chiến hạm ta đang thực hiện cuộc đổ bộ lên đảo Quang Hòa, vì đây là lúc mà các chiến hạm hải quân VNCH dễ bị tấn công nhất.  
Và TC d
ường như đã cố tình che dấu sức mạnh thực sự của hải quân họ. Việc đánh giá thấp sức mạnh của lực lượng TC đã là một yếu tố trong quyết định sử dụng lực lượng quân sự của VNCH.
(phân tích của BQP/HK về cuộc hành quân của Hải quân TC trong hải chiến Hoàng Sa tháng 3-1974)    .
           
Nếu như trong tháng 9-1971, không thám Hoa Kỳ đã ghi nhận trong khu vực cảng đảo Phú Lâm có 1 khu trục hạm loại Kiangnan, 4 tuần duyên đĩnh loại Shanghai II, hai tàu chuyên chở cận duyên, hai LCM, hai xà lan, 1 tàu chuyên chở cận duyên đang cặp bến. Ngoài khơi có 2 khu trục hạm Kiangnan.(CIA-RDP08C01297R000200120004-5 ngày 19 tháng 10-1971)

Như vậy khi âm mưu chiếm đoạt nhóm Nguyệt Thiềm, chúng bắt buộc phải chuẩn bị một lực lượng hùng hậu hơn nhiều trên đảo Phú Lâm.    
           Và thực tế chứng minh là TC đã dự trù một lực lượng hải quân hùng hậu trong kế hoạch cưỡng chiếm Hoàng Sa. Ngoài các chiến hạm tham dự trực tiếp trong trận hải chiến ngày 19/01, tài liệu CIA cho thấy  trong khoảng thời gian từ 11 tháng 11-1973 đến 20 tháng 2-1974 trong khu vực bên trong và ngoài cảng đảo Phú Lâm, không thám HK ghi nhận có sự hiện diện 1 chiến hạm cỡ lớn, 2 tàu chở hàng (loại AKL –Light Cargo Ship), 8 Ngư lôi đĩnh (4 chiếc loại Huchwan, 4 chiếc loại P-4), 8 chiếc Tuần duyên hạm loại Shanghai và đặc biệt lần đầu tiên TC gởi 2 tàu ngầm loại Romeo đến Hoàng Sa.(CIA-RDP78T04752A001600010012-7)    

Đây là lực lượng cần thiết mà chúng dự phòng trong trường hợp xảy ra hải chiến chúng vẫn luôn nắm ưu thế dù trong bất cứ tình huống nào.    

Theo quan điểm của Trung Quốc, việc sử dụng vũ lực dường như chỉ có thể biện minh một khi VNCH khởi đầu hành động thù địch có nghĩa là lực lượng VNCH khai hỏa trước.


Hơn nữa, bằng cách hạn chế hành động quân sự nhằm mục đích trước mắt để chiếm đoạt nhóm Nguyệt Thiềm, Trung Quốc có thể tuyên bố rằng họ đang theo đuổi các mục tiêu hợp pháp, như được thể hiện trong các bản tuyên cáo về Biển Đông.     
Chính vì thế mà BQP/HK đã có nhận định là chính các cấp lãnh đạo dân sự cao cấp Trung Quốc đã duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối với lực lượng quân đội của mình.  

Và y
ếu tố chính trị chứ không phải quân sự là ảnh hưởng chính yếu đối với các hành động của Trung Quốc trong cuộc đối đầu ở Hoàng Sa.     
(tài liệu DIA-646-69-74-SAO tháng 3-1974 của BQP/HK).  
           
Sự đồng thuận về điểm trên đã cho thấy là khi soạn thảo kế hoạch chiếm HS, TC đã dự liệu là họ sẽ không để chiến tranh mở rộng và kéo dài. Và cũng không muốn là bên khai hỏa trước, như vậy chúng sẽ có cớ để biện minh đây là hành động tự vệ.

Thất bại trong kế hoạch đổ bộ Hải kích và Biệt hải chiếm lại đảo Quang Hòa đã dẫn đến việc khai hỏa mở màn cho trận hải chiến. 
Với lực lượng không cân xứng, các chiến hạm ta đã rút về Đà Nẵng trưa ngày 19/01/1974.

Ngày 20 tháng 1, lực lượng Bộ binh và Hải quân TC đã phối hợp thực hiện các cuộc hành quân đổ bộ thật chu đáo tấn công lực lượng yếu kém của VNCH trên hai đảo Cam Tuyền và Hoàng Sa trong nhóm Nguyệt Thiềm.

Sự kiện phía VNCH chịu tổn thất rất ít về nhân mạng cho thấy là quân đồn trú đã bị áp đảo và họ chỉ kháng cự yếu ớt, ngoài ra mặc dù TC quyết tâm dùng vũ lực để chiếm lấy Hoàng Sa nhưng họ chỉ sử dụng một lực lượng vừa đủ để đạt mục tiêu của họ mà thôi.  [29].

Như vậy kể từ ngày 20 tháng 1 năm 1974, toàn thể quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về tay Trung Cộng.

 

                                                                        NHẬN XÉT 
Hoàng Sa đã mất về tay TC, chỉ trừ trong trường hợp dùng vũ lực để chiếm lại, TC sẽ không bao giờ trả lại cho chúng ta.

Bài học về Hoàng Sa rất đáng cho chúng ta ghi nhớ để trong tương lai không mất thêm những gì mà chúng ta đang có.

Tóm lại, có 3 lỗi lầm quan trọng nhất đã dẫn đến việc mất trọn quần đảo HS vào tay TC:  

1.- Thiếu sự quan tâm đến việc phòng thủ nhóm Nguyệt Thiềm.        
Từ mùa hè năm 1951, TC đã bắt đầu đưa một số ít người lên đảo Phú Lâm.

Tháng 6-1956, phi cơ không thám HK phát hiện khoảng 75 dân TC trên đảo Cam Tuyền. Ngay sau đó chiến hạm HK đã được gởi đến nơi và đã đưa toán lính lên đảo để điều tra, kết quả toán người TC đã rời khỏi đảo (trong thời gian này có 6 người Pháp và một số nhân viên người Việt trên đảo HS).     
Trong năm 1958, TC mang 40 tàu đánh cá với 400 ngư phủ ra định cư trên đảo Phú Lâm, thiết lập các cơ sở phòng thủ, trạm truyền tin và đài radar trên một số đảo trong nhóm Tuyên Đức. Ngoài ra Bộ chỉ huy quân sự cũng được thành lập trên đảo Phú Lâm [8].

Ngay sau đó, tháng 2/1959, chúng đưa ngư phủ xâm nhập nhóm Nguyệt Thiềm nhưng đã bị phát giác và ngăn chận. “Ngày 22 tháng 2-1959, Thủy quân Lục chiến trú đóng trên một trong các đảo trong quần đảo tranh chấp Hoàng Sa ở Biển Đông, đã bắt giữ 3 ghe có động cơ cùng 70 người Trung Cộng trong khu vực một đảo khác trong quần đảo.” [8]       
Quốc Tuấn trong Đặc san Sử Địa 1975: “… Đêm ngày 20 rạng 21.2.1959, một đơn vị hải quân VNCH đóng tại quần đảo Hoàng Sa phát thấy Trung-Cộng đã lén đưa ngư dân đổ bộ lên các đảo Cam Tuyền (Robert), Duy Mộng (Drummond) và Quang Hòa (Duncan) trong nhóm nguyệt –thiềm (Crescent) thuộc quần đảo Hoàng Sa trong mục đích chiếm lấy quần đảo này. Đây không phải là lần đầu họ làm như vậy. Năm 1956 các ngư dân Trung Cộng cũng đã lén lút đổ bộ lên Lâm đảo (Wooded island) và đảo Linh Côn (Lincoln Island), cũng thuộc nhóm nguyệt-thiềm …. (trích nguyên văn)” [45]

Các tàu đánh cá ngụy trang xuất phát từ miền Bắc xâm nhập miền Nam giữa đường khi bị không tuần HK phát giác thường quay trở lại nhóm Tuyên Đức để trốn lánh (tài liệu của Trung Tâm Hải Sử HK).

Mặc dù đảo Phú Lâm chỉ cách đảo gần nhất trong nhóm Nguyệt Thiềm là Duy Mộng khoảng 75 km (40 hải lý) và TC lúc nào cũng luôn rình rập để chờ cơ hội chiếm đoạt, nhưng chánh quyền VNCH đã không có biện pháp nào để bảo vệ một cách hữu hiệu.

Thời Đệ nhất Cộng hòa, chiến tranh Quốc-Cộng chưa bộc phát dữ dội, TQLC được đưa ra trấn thủ đảo HS, đồng thời chiến hạm hải quân cũng công tác thường xuyên.

Sau biến cố năm 1959, thay vì tiếp tục duy trì và mở rộng cơ sở phòng thủ trên các đảo còn lại, chánh quyền VNCH lại rút dần TQLC về nội địa. Tháng 10-1959, 43 lính Bảo an được gởi ra thay thế (cộng thêm 30 TQLC còn duy trì trên đảo HS cho đến cuối năm 1963, tuy nhiên quân số lại tiếp tục giảm cho đến tháng 1-1974 chỉ còn 25 người).


Sau hiệp định Paris tháng 1/1973, mặc dù chánh quyền miền Nam đã thực hiện kế hoạch thiết lập chủ quyền trên quần đảo Trường Sa, nhưng các cấp lãnh đạo trung ương và các cấp chỉ huy trực tiếp chịu trách nhiệm an ninh lãnh thổ thuộc Quân đoànI/Quân khu I (Tư lệnh QĐI/QKI và Tiểu khu trưởng Tiểu khu Quảng Nam) vẫn không nhận ra giá trị chiến lược của Hoàng Sa để có những hành động cấp thời  củng cố hệ thống và gia tăng quân số phòng thủ trên đảo HS, cũng như thay đổi quan niệm về việc hoán chuyển toán quân trú đóng, xem đây như là trách nhiệm thiêng liêng để giữ gìn và bảo vệ bờ cõi chứ không phải là nơi trừng phạt các thành phần vô kỷ luật trong quân đội.

Ngoài ra, việc đưa quân thiết lập căn cứ trên các đảo còn lại, nhất là đảo Quang Hòa nằm ở phía Đông nhóm Nguyệt Thiềm vẫn chưa được quan tâm đến.


Trước 1973, HK vẫn thường xuyên biệt phái chiến hạm tuần tiễu và phi cơ thực hiện các phi vụ không thám trong nhóm Tuyên Đức do TC kiểm soát.

Khi Hoa Kỳ bắt đầu rút quân về nước, chánh quyền VNCH cũng dư biết là đừng nên hy vọng gì nhiều vào người bạn đồng minh Hoa Kỳ sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện trong khu vực HS và có trách nhiệm báo cáo cho giới hữu trách VNCH các sự vi phạm lãnh hải của TC.           
Dù vậy việc sử dụng các chiến hạm VNCH trong công tác tuần tiễu ngoài Hoàng Sa vẫn chưa được cấp chỉ huy cao cấp tại BTL/Hải Quân và BTL/VIDH cứu xét.

Mặc dù hải quân VNCH không đủ chiến hạm để tuần tiễu HS một cách thường xuyên nhưng với cương vị TL/V1DH và với trách nhiệm “Hoàng Sa Trấn - Hải Biên Phòng” ít nhất mỗi tháng 1 lần các chiến hạm loại Khu trục hạm (DER), Tuần dương hạm (WHEC) hoặc Hộ tống hạm (PCE) khi biệt phái công tác Vùng I Duyên hải vẫn có thể ghé ngang nhóm Nguyệt Thiềm để quan sát toàn thể khu vực và để nâng cao tinh thần quân nhân đốn trú trên đảo HS.

Không ai có thể phủ nhận là quân lực VNCH đã phải phân tán và phối trí lực lượng để giữ gìn an ninh lãnh thổ cho miền Nam chống lại Cộng sản Bắc Việt, nhưng quần đảo HS tuy xa xôi vẫn là một phần khúc ruột của đất nước, vị trí nằm ngay trung điểm của nước VN và đảo Tri Tôn chỉ cách Cù Lao Ré khoảng 130 miles (240 km).

Giáo sư Sơn Hồng Đức ngay sau trận hải chiến Hoàng Sa đã viết lên những lời tâm huyết: “Năm 1974 bắt đầu với trận hải chiến Hoàng Sa (19 và 20 tháng 1) như nhắc nhở chúng ta đừng quên một quần đảo, chơi vơi giữa bão táp, xa xôi nghìn dặm, nhưng bao giờ cũng là đất cuả MẸ VIỆT NAM. Hải đảo xa này ít người biết đến, mặc dù vai trò chiến lược vô cùng quan yếu trong chủ thuyết “tự do hải hành” của các cường quốc ngày nay…………………………………………………………………………………………

Cha Ông chúng ta, với lòng can đảm vô biên, chí mạo hiểm vô cùng đã để lại cho con cháu ngày nay một dãy giang sơn gấm vóc gồm lãnh thổ lục địa và những quần đảo trong Đông Hải và vịnh Thái Lan. Quan niệm sai lầm thường cho rằng đây chỉ là những bãi cát bão táp không giá trị sản xuất nên chúng ta đã
“thiếu tích cực” trong vấn đề định cư hoặc chiếm đóng.”
[46]

Và HQ Đại úy Trần Kim Diệp cũng có nhận xét tương tự: “…  Cấp lãnh đạo đã không có được cái nhìn xa rộng để thấy được sự qúy giá của quần đảo HS, tuy xa xôi nhưng có vị trí chiến lược và giàu có về tài nguyên (phốt phát, dầu hỏa, khí đốt, hải sản), nên đã không có phương sách hữu hiệu để bảo vệ.

Do quá bận tâm đối phó với kẻ nội thù CSBV hung hiểm, nên đã thiếu cảnh giác về họa xâm lăng của giặc TÀU phương Bắc. Sớm quên bài học năm 1946 (Tưởng giới Thạch cướp nhóm Bắc đảo của quần đảo Hoàng Sa) nên lơ là trong việc giữ phần còn lại của quần đảo (nhóm Nguyệt Thiềm).” [29]           
           
2.-Thiếu phản  ứng cấp thời, thiếu kế hoạch phối hợp các quân binh chủng cùng các quyết định đúng mức trong lúc giao chiến.

Từ ngày 11 tháng 1, sau khi TC tuyên bố chủ quyền trên cả HS lẫn TS, về phần Bộ Ngoại giao VNCH đã có các phản ứng tức thời qua bản tuyên bố ngày 12/01/1974 của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao VNCH Nguyễn Bích Mạc dưới nhan đề “Việt Nam Cộng Hòa bác bỏ lời tố cáo phi lý của Trung Cộng về quần đảo Hoàng Sa” và “Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa về việc Trung Cộng vi phạm chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” ngày 16/01/1974 [45].


Nhưng về phần các giới chức ở Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, BTL/HQ, BTL/QĐI, BTL/V1DH hầu như là không quan tâm đến.  
Cựu Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc đã viết: “… tôi cần minh xác là Bộ Ngoại Giao cũng như cá nhân tôi không hề được Tổng Thống hay quí vị Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, Tư Lệnh Binh Chủng hoặc Tư Lệnh Vùng tham khảo ý kiến hay thông báo diễn tiến vế các vấn đề quân sự, các cuộc hành quân…….trong vụ Hoàng Sa, Bộ Ngoại Giao đã đề nghị và dự thảo bản tuyên cáo ngày 14 Tháng Hai 1974 của chính phủ VNCH nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau vụ xâm lược của Trung Cộng.   
Tôi không nh
ớ
có một phiên họp của Nội Các VNCH vào ngày 17 Tháng Giêng 1974 hay không, nếu có thì phiên họp ấy đã đề cập đến những vấn đề gì và đưa ra những quyết định nào liên quan đến vụ Hoàng Sa.” [6]

Nếu như ngay sau ngày 11/01, các cấp lãnh đạo VNCH cảnh giác được ý đồ của TC, chỉ thị các cấp trực thuộc đặc biệt quan tâm đến quần đảo Hoàng Sa, thi hành các biện pháp khẩn cấp điều động ngay chiến hạm, phi cơ ra thám sát sẽ phát hiện TC sớm hơn ngay lúc chúng mới vừa đặt chân lên đảo Duy Mộng và Quang Hòa và cơ may ngăn chận chúng sẽ dễ dàng hơn.

Tác giả Chi-kin Lo nhận xét: “Sự thiếu chuẩn bị của các lực lượng miền Nam Việt Nam đã đảm bảo sự chiến thắng cho Trung Cộng trong trận chiến một cách dễ dàng hơn. Hành động của Trung Quốc không phải ngẫu nhiên bởi vì sự lâu dài và kiên quyết của họ về yêu sách chủ quyền đối với các hải đảo.
Quả thật, chánh phủ miền Nam Việt Nam nhìn có vẽ ngây thơ hoặc cẩu thả khi không nhận thức một cách nghiêm túc bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc ngày 11 tháng 1năm 1974.”
[47]

Chỉ đến khi Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 trong chuyến công tác đặc biệt ra đảo Hoàng Sa ngày 15/01, sau khi đưa toán Công Binh lên đảo, quay trở ra thả trôi gần đảo Cam Tuyền, tình cờ phát hiện tàu đánh cá TC, lúc bấy giờ BTL/HQ/VIDH mới bắt đầu đối phó, nhưng đây chỉ là cách đối phó cấp thời chớ không phải là một kế hoạch để đối phó với cả một âm mưu của TC.

 

Ngày 16/01 đúng 8 giờ sáng [48] [49], Tổng thống Thiệu đến thăm VIDH có Trung tướng Ngô Quang Trưởng TL/QĐ I tháp tùng. Nhân dịp này, Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ-Thoại TL/VIDH đã thuyết trình lên TT Thiệu về tình hình HS, trong đó ông nhấn mạnh “việc chiến hạm Việt Nam cố gắng mời chiến hạm Trung Cộng rời khỏi lãnh hải một cách ôn hòa nhưng tình hình trong 24 giờ qua cho thấy Trung Cộng có ý định khiêu khích.”         
           
 
Và căn cứ theo ĐĐ Thoại qua quyển sách của ông và qua những lần phỏng vấn thì TT Thiệu viết thủ bút ra lệnh trực tiếp cho ông phương thức đối phó như sau:

“Thứ nhứt là tìm đủ mọi cách ôn hòa mời các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh hải VNCH.
Th
ứ
hai, nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này và nếu họ ngoan cố thì toàn quyền sử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ VNCH” ([50]trang 157&159).

Nhưng theo lời của TL/HQ trong lần phỏng vấn gần đây nhất thì: “ Khi ông Thoại báo cáo cho tôi về vấn đề HS, ông không báo cáo là có tàu binh của Trung Quốc mà chỉ nói là có hai chiếc tàu đánh cá có gắn súng đại liên thôi.

Tôi liền ra lịnh cho Đô Đốc Thoại  đuổi 2 tàu  đánh cá Trung Quốc ra khỏi hải phận của ta, nếu nó không nghe thì lôi nó giải giao về Đà Nẵng.”  ([51] trang 324). 


Chỉ thị trên của TL/HQ đã được các chiến hạm VNCH tuân hành từ bao năm nay. Trong vùng biển Phú Quốc, tàu đánh cá Thái Lan thường xuyên vi phạm lãnh hải ta. Mỗi lần bắt gặp, tàu hải quân chạy đến          chận bắt ngay, đôi lúc, phải nổ súng vào phía sau lái hoặc mũi để cảnh cáo lúc bấy giờ tàu đánh cá mới chịu dừng lại, sau đó chiến hạm ta áp giải chúng về An Thới (Phú Quốc).

 

Và ngay tại Vùng 1 Duyên hải, đã xảy ra trường hợp đối đầu giữa lực lượng hải quân với tàu đánh cá TC, biến cố này trong đặc san Lướt Sóng năm 1974, bài “Quần đảo Hoàng Sa và chủ quyền VNCH” phần “Chủ quyền VN bị xâm phạm tại Hoàng Sa” (trang 28) ghi nhận:          
“…Sau khi chiếm được hai đảo Phú Lâm và Linh Côn mà không gặp trở ngại nào, năm 1959 Trung Cộng dự mưu chiếm cứ nốt các đảo ở phía Nam (thuộc nhóm Nguyệt Thiềm) bằng cách áp dụng lại các kế hoạch trên. Nhưng Hải Quân Việt Nam đã kịp thời ngăn chận âm mưu này và đã bắt giữ một số ngư phủ Trung Cộng xâm nhập bất hợp pháp các đảo Quang Hòa và Duy Mộng.” [51a]

        
Phương thức hành động lần này của TC tại HS trong tháng 01/1974 hầu như cũng tương tự như năm 1959, nhưng tiếc thay, phản ứng về phía ta lại khác.

Mặc dù đã có chỉ thị rõ rệt từ TT Thiệu [50] và TL/HQ, nhưng không hiểu sao lịnh này vẫn không được chuyển đến chiến hạm để thi hành.           
Dĩ nhiên là nếu nhận lệnh từ BTL/VIDH, HQ 16 và HQ 4 phải làm tròn nhiệm vụ kể cả việc sử dụng vũ khí để áp đảo và bắt giữ chúng, nhưng vì lệnh từ BTL/VIDH chỉ yêu cầu chiến hạm cố gắng đuổi chúng ra khỏi khu vực đảo Hoàng Sa và Cam Tuyền, không được bắt giữ và sử dụng vũ khí.

Qua cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 15/12/2007, ĐĐ Thoại trả lời như sau:"Lúc đầu chúng tôi làm đúng chỉ thị của tổng thống là mời họ ra khỏi lãnh hải một cách ôn hòa, thế nhưng họ nhất định không chịu ra. Cho tới sáng 19/1, tình hình hai bên cùng chĩa súng không thể kéo dài hơn được nữa. Quân Việt Nam Cộng Hòa phải dùng võ lực theo đúng chỉ thị của tổng thống và khai hỏa lúc khoảng 10 giờ sáng 19/1/1974."

Và trong lần phỏng vấn vào tháng 01/2014: “Trước hết là phải dùng các biện pháp ôn hòa như đèn hiệu, cờ hiệu, loa để mời họ ra khỏi lãnh hải và lãnh thổ VNCH.

Tuy nhiên nếu tất cả các biện pháp ôn hòa không thành công thì ông cho phép tôi dùng vũ lực để chứng minh chủ quyền của VNCH trên những đảo đó nên các chiến hạm đã làm tất cả các biện pháp đó rồi nhưng không được nên phải nổ súng.” [52]


Dẫn chứng trên đã chứng tỏ là TL/VIDH chỉ thi hành lệnh thứ nhứt của TT Thiệu “là tìm đủ mọi cách ôn hòa mời các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh hải VNCH.” mà quên thi hành lệnh thứ hai “nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này và nếu họ ngoan cố thì toàn quyền sử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ VNCH.”           
(Lời tác giả: theo TL/HQ thì hai chữ chiến hạm mà TL/V1DH dùng để báo cáo lên TT Thiệu thực ra là hai tàu đánh cá vũ trang mang số 402  mà HQ 16 đã phát hiện vào chiều ngày 15/01 và số 407 vào trưa ngày 16/01).  
                        Không những thế, lệnh của TL/HQ mà các Hạm trưởng đã từng áp dụng để đối phó với bất cứ tàu thuyền ngoại quốc nào vi phạm hải phận VN cũng không được ĐĐ Thoại tuân hành.

Tài liệu tìm được cho thấy HQ 16 đã phát hiện tàu đánh cá TC mang số 402 từ trưa ngày 15/01 [41]. Qua trưa ngày hôm sau 16/01, phát hiện thêm chiếc 407.     
Và từ khi HQ 16 phát giác tàu đánh cá TC vào trưa ngày 15/01, cho đến khi HQ 4 nhập vùng, trong khu vực lòng chảo nhóm Nguyệt Thiềm cũng chỉ có hai tàu đánh cá TC mang số 402 và 407 (TC đưa 2 chiếc K.271 và 274 đến vùng vào chiều ngày 17/01).                          
 
Hành vi của 2 tàu đánh cá TC còn tệ hại hơn các tàu đánh cá Thái Lan, không những chúng vi phạm hải phận nước ta, chúng còn trắng trợn đưa người lên cắm cờ trên đảo. Khi bị phát giác, chúng ngang ngược khiêu khích và thách thức chiến hạm ta.                  
                         Theo lời thuật lại của Gerald Kosh, thì vào trưa ngày 18/01, hai tàu này không những ngoan cố không chịu rời khỏi lãnh hải VN, mà chúng còn quấy rối chiến hạm ta.       
Chiếc 402 di chuyển một cách bất thường rất gần với HQ 16, còn chiếc 407 đâm ngang trước mũi HQ 4 chỉ cách khoảng 10m, tạo cơ hội cho HQ 4 vận chuyển húc mũi tàu đâm vào hông chiếc 407 của Trung Cộng, lúc bấy giờ “hai chiếc tàu Trung Cộng đành phải nhượng bộ, rời vùng chạy vòng qua phía nam Cam Tuyền, sau đó chạy về phía hai đảo Quang Hòa và Duy Mộng” ([38]trang 40).      
Sáng ngày 18/01, BTL/V1DH ra lịnh cho các chiến hạm đuổi tàu TC ra khỏi đảo Cam Tuyền và bảo vệ các đảo Hoàng Sa, Cam tuyền, và Vĩnh Lạc bằng mọi giá. Tuy nhiên, lúc 11:00H khi chiếc 407 di chuyển vào vùng nước cạn, HQ 16 không thể đuổi theo, Hạm trưởng HQ 16  đã yêu cầu thẩm quyền cao cấp ở BTL/HQ cho phép tác xạ trước mũi chiếc 407, nhưng không  được chấp thuận [52a] và tiếp theo lúc 13:00H khi chiếc này đến gần đảo Cam Tuyền khoảng vài trăm yards, một lần nữa HQ16 yêu cầu được tác xạ lên đảo để ngăn chận chúng nhưng cũng không được chấp thuận.

                             
Vì chiến hạm ta không được lịnh dùng vũ lực để bắt giữ chúng, nên từ Cam Tuyền, chúng di chuyển sang khu vực Quang Hòa, Duy Mộng. Như vậy chúng vẫn còn loanh quanh trong lãnh thổ của ta, rồi sau đó lại xuất hiện trong ngày hải chiến 19/01 đưa quân lên đảo Quang Hòa và trợ giúp chiến hạm TC bị lâm nguy.

Tiếp theo, trong ngày 20/01, chúng là thành phần chủ lực hướng dẫn các tàu đánh cá khác đưa lực lượng bộ binh đổ bộ lên chiếm các đảo Cam Tuyền, Hoàng Sa và Vĩnh Lạc.


Có thể nói việc BTL/VIDH không ra lịnh chiến hạm ta bắt giữ hai tàu đánh cá trá hình 402 và 407 là một thất lợi lớn cho ta, vì 2 tàu đánh cá này là hai chiếc chủ lực trong kế hoạch chiếm đoạt HS của TC.
Chúng đã đảm nhận công tác do thám lực lượng và vị trí phòng thủ ta trên đảo HS, cũng như thăm dò thủy đạo, địa hình trên tất cả các đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm vì thế chúng đã được gởi đến HS ngay từ đầu tháng 1/1974 [40].           
Nếu 2 tàu này bị bắt giữ, TC bắt buộc sẽ phải cân nhấc kỹ lưỡng trước khi hành động, phần vì kế hoạch của chúng sẽ bị trở ngại, phần khác vì ta đã có sẵn con tin cùng bằng cớ hiển nhiên về ý đồ xâm lăng của chúng (như vũ khí trang bị trên tàu, hệ thống antenna….) để chứng minh trước dư luận thế giới.   
                           


Và việc không áp dụng biện pháp vũ lực để bắt giữ tàu đánh cá TC không hẵn là sai lầm của ĐĐ Thoại mà thật sự chính là do thủ bút của TT Thiệu _như ĐĐ Thoại đã trả lời trong cuộc phỏng vấn của Hải quân HK _trong đó nhấn mạnh ở điểm “Ngoài biển anh chỉ cần có vài hành động phù hợp với luật pháp quốc tế.”
                   Thủ bút chỉ thị cách đối phó với tàu TC quá tổng quát, ‘hành  động phù hợp với luật pháp quốc tế’  đã được ĐĐ Thoại hiểu là chỉ cần dùng biện pháp ôn hòa  đuổi chúng ra khỏi hải phận vì không có một chữ nào nói đến việc cho phép ĐĐ Thoại được nổ súng trước mũi các chiến hạm hay toàn quyền sử dụng vũ khí  để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ. VNCH.   

 Nếu nhận thức được tầm mức quan trọng ngay từ giờ phút đầu, TT Thiệu đúng ra phải chỉ định Trung tướng Ngô Quang Trưởng TL/QĐ1 (người chịu trách nhiệm lãnh thổ và là người có thẩm quyền điều động tất cả các lực lượng Hải, Lục, Không quân trong vùng) đảm nhận trách nhiệm đối phó với TC và ra lệnh cho Tướng Trưởng tức thời gởi quân ra tăng cường trên đảo HS và trú đóng trên hai đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc.   


Khi trách nhiệm được trao cho Tướng Trưởng, kế hoạch hành quân sẽ được phân nhiệm rõ ràng, chi tiết hơn và chắc chắn là Sư đoàn I/Không quân sẽ phải thi hành trách nhiệm tăng phái phi cơ khi được yêu cầu, do vậy cuộc diện có thể thay đổi khi có phi cơ tham chiến.

Với thủ bút trao trực tiếp cho ĐĐ Thoại trước sự hiện diện của Tướng Trưởng, TT Thiệu ngay từ đầu đã giao cho TL/VIDH trách nhiệm đối phó với biến cố HS, trong khi ĐĐ Thoại chỉ có thẩm quyền chỉ huy và điều động các lực lượng hải quân trong vùng trách nhiệm.

                              
Chính ĐĐ Thoại xác nhận vai trò của chánh quyền trung ưong ở Sài Gòn và Bộ TTM: “Tôi nghĩ là Sài Gòn, Bộ Tổng Tham Mưu, đôi khi họ không theo dõi tình hình. Và họ không muốn bất cứ trách nhiệm nào.” (trang 55,tài liệu phỏng vấn của Hải quân Hoa Kỳ)

Tuy nhiên trách cứ này hơi quá đáng vì chính Trung tướng Đồng Văn Khuyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Tiếp vận QL/VNCH trong tập tài liệu viết về QL/VNCH cho Trung tâm Quân sử Bộ binh Hoa Kỳ tháng   12 năm 1978 trang 388 đã trả lời cho câu hỏi vì sao QĐ I và Bộ TTM/QLVNCH đứng ngoài trong trận          hải chiến HS:

“Trong các chuyến thanh tra, ông thường ra lịnh trực tiếp cho các Tư lịnh Vùng; có những lần khác, ông tự tay viết cho họ. Do đó, một vài hành động quan trọng đã được thực thi mà không thông báo cho Bộ TTM hoặc không do Bộ TTM chỉ huy. Cuộc đụng độ đáng tiếc với chiến hạm Trung Cộng xảy ra đầu năm 1974 là trường hợp điển hình.

Ông đưa ra quyết định đối phó với Trung Cộng sau khi nghe TL/VIDH thuyết trình mà không thông báo Bộ TTM.”       

Cũng vì vậy, từ ngày 15/01, khi HQ 16 báo cáo sự hiện diện của TC trên đảo Cam Tuyền cho đến ngày   19/01, không có một phi cơ nào của không quân VNCH được gởi ra để thi hành công tác quan sát.        
Sáng ngày 19/01, khi cuộc đổ bộ tái chiếm đảo Quang Hòa thất bại, phải triệt thoái toán Hải kích và Biệt hải về tàu và sau đó trận hải chiến bùng nổ. Giữa lúc các chiến hạm VNCH đang chiến đấu một mất một còn với các chiến hạm TC vẫn không thấy một phi cơ chiến đấu nào của Sư Đoàn I/KQ bay ra yểm trợ mặc dù đã được hứa hẹn từ trước và lý do đã được đưa ra vào phút chót là vì thiếu nhiên liệu. *

 

Trong cương vị chỉ huy hành quân, ĐĐ Thoại đã nghĩ đến việc phải cần có không yểm, ông gởi công điện lên Bộ TTM thỉnh cầu cung cấp phi vụ trinh sát và tình báo nhưng Bộ TTM không đáp ứng, điều này đã cho thấy là ngay cả bộ chỉ huy cao cấp nhất của quân lực VNCH cũng coi thường sự hiện diện của TC.

Dự trù nhu cầu không yểm, trước khi khai hỏa, Vùng1 DH đã liên lạc với SĐ1/KQ và yêu cầu cung cấp không yểm đã được Chuẩn tướng Nguyễn Đức Khánh Tư lệnh SĐI/KQ chấp thuận [35].       
Do vậy lúc 10:10H, BTL/V1DH thông báo cho Đại tá Ngạc là phi cơ KQ/VN sẽ bay ra sớm để yểm trợ và đã cung cấp cho ông tần số để liên lạc [52b].  
Nhưng khi giao chiến, ĐĐ Thoại liên lạc hàng ngang với Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân để hỏi xem có thể làm gì để giúp ông, nhưng được trả lời là phi cơ không thể bay ra Hoàng Sa vì khoảng cách quá xa. Phi cơ chỉ có 5 phút bay tác chiến trên không phận quần đảo Hoàng Sa!


Vì vậy, đã không có sự giúp đỡ của lực lượng không quân. Nhưng thật trớ trêu là sau trận hải chiến, Bộ TTM lại chất vấn tại sao ông không yêu cầu không yểm! [32]

(Bài phân tích của HQHK cho thấy là các loại phi cơ F-5**, A-1 và AC-119 của không quân VN có khả năng bay từ phi trường Biên Hòa ra Trường Sa cách khoảng 400 hải lý trong khi phi trường Đà Nẵng chỉ cách Hoàng Sa khoảng 200 hải lý) [53].          

Bài viết của NT Vương Văn Bắc cũng đề cập đến khả năng của phi cơ VNCH: “…Tôi còn nhớ một chi   tiết qua phần trình bày của Ðại tướng Tổng Tham mưu trưởng: Vì khoảng cách quá xa giữa Ðà Nẵng và quần đảo Hoàng Sa, máy bay của ta dù có trang bị thêm những bầu chứa nhiên liệu cũng chỉ có thể tác chiến trong vùng trời Hoàng Sa khoảng mười lăm phút mà thôi…” [6]


Và trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng, không những thiếu không yểm, lực lượng bộ binh cũng không được tăng cường, HQ 4 phải sử dụng 14 nhân viên cơ hữu lên phòng thủ Cam Tuyền và HQ 16 đưa 15 người lên đảo Vĩnh Lạc.    
Lệnh tăng phái này đã đưa đến sự thiếu hụt nhân viên, ảnh hưởng đến khả năng chiến đấu của chiến hạm (gần Tết, một số nhân viên đã được cho nghỉ phép, HQ 16 chỉ còn 80% quân số hiện diện [51]).

Các giới chức thẩm quyền xem đây là cuộc “tao ngộ chiến”, vì vậy trong ngày 19-1 các quyết định rất quan trọng về chiến lược và chiến thuật đã không được suy xét tận tường dẫn đến việc mất trọn quần đảo Hoàng Sa.    
Trong khi địch quân thông suốt về địa thế các đảo và khả năng phòng thủ của ta, thì bên ta lại mịt mờ về khả năng của chúng.

           
Có lẽ vị chỉ huy hành quân ĐĐ Thoại đã quá tự tin khi ông nói với TL/HQ là: “Tôi nghĩ càng sớm càng tốt. Bởi vì họ chưa sẵn sàng.” [32]

Câu nói này nên dành cho phiá ta thì đúng hơn, vì chưa sẵn sàng nên đã thất bại khi đổ quân lên đảo Quang Hòa, đã thiếu không yểm, đã bỏ HQ 10 trôi dạt và đã bỏ lại các chiến sĩ Hải quân và ĐPQ trên các đảo Hoàng Sa, Cam Tuyền và Vĩnh Lạc !!!???        
Các c
ấp chỉ huy có lẽ quá chủ quan mà quên là địch đã sẵn sàng lực lượng của chúng từ lâu ngay tại căn cứ trên đảo Phú Lâm chỉ cách đảo Quang Hòa, Duy Mộng khoảng 75 km.  
Khi c
ần chỉ mất khoảng 2 tiếng đồng hồ, chúng sẽ có mặt ngay tại vùng chiến.      

Tài liệu CIA tháng 10/1971 đã cho thấy lực lượng hải quân TC hiện diện trong khu vực đảo Phú lâm  gồm có 3 khu trục hạm Kiangnan và 4 tuần duyên hạm loại Shanghai II (hai loại này đã có mặt yểm trợ cho cuộc đổ bộ trong ngày 20/1). (CIA-RDP08C01297R000200120004-5 ngày 19/10/1971)    
Ngoài ra trong kế hoạch TC cũng dự trù loại trừ khả năng chiến thắng và tái chiếm Hoàng Sa của VNCH một khi trận chiến bùng nổ, do vậy chúng đã tăng cường một lực lượng trừ bị hùng hậu trong khu vực đảo Phú Lâm trong khoảng thời gian từ 11 tháng 11-1973 đến 20 tháng 2-1974, đặc biệt trong số này có 2 tàu ngầm loại Romeo. (tài liệu CIA-RDP78T04752A001600010012- TOP SECRET- KH-9_7 May 1974)


Về phần không quân, tài liệu của Bộ quốc phòng HK dựa trên nguồn tin tình báo cho thấy là các phi cơ chiến đấu của TC đã được đặt trong tình trạng sẵn sàng. Hải quân TC đã tăng phái 20 MIG-15 thuộc Sư đoàn 12 không quân hải quân và Bộ Tư lịnh KQ ở Kuang Chou đã ra lịnh khẩn cấp cho 6 chiếc MIG-19 loại trinh sát dời sang căn cứ không quân Lingshui ở Hải Nam để tham gia chiến dịch hành quân biển ở quần đảo Hoàng Sa.

Như vậy cũng đủ để nhận ra là chúng đã điều  động và duy trì một lực lượng hùng hậu như thế nào trước khi tiến sang xâm chiếm nhóm Nguyệt Thiềm.    

Lệnh hành quân từ BTL/HQ chiều ngày 18/01 chỉ thị Vùng I tái chiếm thật nhanh 2 đảo Duncan và Drummond bằng mọi giá, dùng biện pháp ôn hòa trước. ([4] trang 301) đã dựa trên những điều kiện thật lý tưởng, không cần biết trước địa hình, địa thế, không quan tâm đến lực lượng phòng thủ và tăng viện của địch, không có kế hoạch dự trù không yểm.           

Ngay cả hải pháo cũng không được sử dụng để dọn đường cho lực lượng đổ bộ và các chiến sĩ hải quân trước khi đổ bộ lên đảo đã nhận lịnh từ Đại tá Ngạc là “không được nổ súng và lên bờ yêu cầu toán quân của họ rời đảo.” ([4] trang 250), trong khi trên đảo Quang Hòa “địch đã thiết lập 5 dãy nhà tiền chế sơn màu olive, các công sự phòng thủ” (phúc trình số 001/HQ 5/PT/K ngày 21/02/1974).         
Và ngoài lực lượng đã có sẵn từ trước, lúc 05:15H, 2 chiến hạm TC đã đổ bộ thêm 400 quân lên phía Đông Bắc đảo Quang Hòa [52b]; vì vậy khi toán Hải kích và Biệt hải đổ bộ lên đảo đã bị khoảng 1 tiểu đoàn lính TC bao vây lúc 08:30H  [54])


Thật là vô lý khi tàu đánh cá trá hình của TC đã bị chiến hạm ta húc mũi vào hông mà chúng vẫn lì lợm không chịu rời khỏi lãnh hải VN thì sá gì toán đổ bộ vài chục người của ta lên đảo, chỉ dùng lời mà chúng lại bằng lòng rời đảo hay sao; trong khi lực lượng phòng thủ của chúng đông gấp bảy, gấp tám lần lực lượng ta đã chờ sẵn trong các công sự phòng thủ???!!!

Là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, nhưng NT Vương Văn Bắc đã có nhận định thật chính xác: “Tuy không có sự hiểu biết chuyên môn về vấn  đề, tôi cũng ý thức  được là trong một cuộc chiến hiện đại, nếu không  đem lại cho các lực lượng  đổ bộ không yểm  đầy  đủ thì toan tính cho quân đổ bộ chiếm lại quần đảo Hoàng Sa sẽ chỉ là một hành động phiêu lưu vô vọng.” [6]    

Chỉ tiếc là nếu như không có cú điện thoại của TT Thiệu, với suy nghĩ của ĐĐ Thoại có thể là sau khi rút toán đổ bộ về lại chiến hạm, ông sẽ sử dụng các chiến hạm làm tuyến phòng thủ các đảo còn lại ở phía Tây nhóm Nguyệt Thiềm, đem toán Hải kích và Biệt hải lên tăng cường các đảo Hoàng Sa, Cam Tuyền và Vĩnh Lạc.           
Thêm vào đó, toán tiếp viện gồm có Hộ tống hạm HQ 11 và 3 Tuần duyên đĩnh chở theo 91 Địa phương quân và 15 Biệt hải sẽ đến vùng vào khoảng chiều ngày 19-1 [55] ([4] trang 301), như vậy ta đã có sẵn một lực lượng phòng thủ đáng kể đủ để đương cự với địch trong một thời gian.***

       Và nếu VNCH vẫn tiếp tục gởi lực lượng tăng viện, chứng tỏ quyết tâm giữ HS bằng mọi giá, thế giới sẽ quan tâm đến tình hình HS, vì thái độ cứng rắn của VNCH có thể đưa đến nguy cơ của một trận chiến khốc liệt giữa một cường quốc và một nước nhược tiểu.         
Đây sẽ là cơ hội để dư luận quốc tế có dịp bàn cãi và thảo luận về lịch sử và chủ quyền quần đảo HS, dã tâm của TC âm mưu dùng vũ lực chiếm đoạt HS từ tay VNCH sẽ bị lột trần.                       
Từ đó, TC sẽ phải duyệt xét lại kế hoạch của họ vì tiếp tục gây chiến TC sẽ gặp nhiều khó khăn về mặt tuyên truyền và sẽ làm giảm uy tín đối với các nước nhược tiểu cũng như làm tổn thương đến mối giao hảo với các nước trong vùng Đông Nam Á và các nước khác kể cả CSBV.  


Để duy trì mối giao hảo HK-TC thuận lợi và tốt đẹp trong tương lai, dĩ nhiên Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai không dại gì làm phiền lòng HK, nhất là khi TC đã hứa với Kissinger:        
“sự công nhận của Trung Quốc về lập trường của Tổng thống là một sự bùng nổ quân sự ở Đông          Dương  sẽ có ảnh hưởng bất  lợi  đến lợi ích chung của hai nước (nguyên văn: “Recognition by the       Chinese of your position that a military flare up in Indochina will have adverse effects on our mutual interests”) [phúc trình về chuyến thăm Trung Cộng của Henry Kissinger gởi Tổng thống Nixon ngày 19   tháng 11 năm 1973 – FRUS 1969-1976]

 
Riêng HK, tuy muốn phát triển mối liên hệ ngoại giao với TC, nhưng HK cũng không thể khoanh tay khi cuộc xung đột lan rộng, bắt buộc HK sẽ phải lên tiếng để yêu cầu TC ngưng ngay các hoạt động quân sự.


Lo ngại về sự tổn thương trong mối quan hệ với HK và phản ứng bất lợi trước dư luận thế giới, nên trong kế hoạch chiếm HS, TC đã tiên liệu là sẽ không để chiến tranh mở rộng và kéo dài và sẽ không là bên nổ súng trước.

 

Trong điện văn gởi TĐS/HK/SG ngay vào chiều tối ngày 19 tháng 1, BNG/HK đã đưa ra lập trường của chánh phủ HK như sau: “… mong muốn làm dịu tình hình trước khi dẫn đến bất cứ điều gì nghiêm trọng hơn là sự đụng độ giữa các chiến hạm. Đặc biệt Bộ Ngoại giao muốn tránh có sự đối đầu giữa Việt Nam và Trung Cộng, điều này sẽ đưa đến, trực tiếp hoặc gián tiếp, sự giúp đỡ tích cực hơn cho CSBV… Quan tâm chính của chúng ta là mang lại sự kết thúc cho cuộc chiến tranh hạn chế đã xảy ra, làm giảm bớt giọng điệu phô trương và khuyến khích cả hai bên chuẩn bị tư thế pháp lý của họ cho đến khi có thể được cứu xét trong một diễn đàn thích hợp.

Yêu cầu Đại sứ gặp Tổng thống Thiệu hay NT Bắc để thảo luận tình hình, nói rõ là không có lợi cho Việt Nam cũng như HK khi cuộc xung đột về quần đảo HS trở nên trầm trọng hơn. HK tin rằng, nếu có thể, nên tránh có thêm những cuộc đụng độ hải quân và chánh phủ VN nên đi đầu trong việc tìm kiếm giải pháp hòa bình hoặc ở hội nghị về luật biển (LOS), tòa án quốc tế Hague hay LHQ.” [56]        
Như thế, cuộc xung đột sẽ được chuyển sang mặt trận ngoại giao vì kéo dài trận chiến sẽ không có lợi cho cả Hoa Kỳ lẫn Trung Cộng.


Một  điều chắc chắn là ta sẽ mất hai  đảo Quang Hòa và Duy Mộng, nhưng ít nhất các  đảo Hoàng Sa, Cam Tuyền, Vĩnh Lạc và Tri Tôn vẫn còn là một phần của tổ quốc Việt Nam.

Có một câu hỏi lớn được đặt ra ở đây là nếu như Tư lệnh Hải quân không ra lịnh cho HQ 4 và HQ 5 trở về Đà Nẵng thay vì trở lại cố thủ Hoàng Sa thì tình thế sẽ diễn tiến như thế nào? Vì lúc bấy giờ lực lượng tăng viện gồm có Hộ tống hạm HQ 11 và 3 Tuần duyên đĩnh HQ 709,711, 723 cùng với hơn 100 Địa phương quân và Biệt hải đã ra đến HS, như vậy ta vẫn còn một lực lượng đáng kể cố thủ các đảo còn lại.

HQ Đại tá Hà Văn Ngạc nhận xét: “Một lần nữa, giả dụ rằng ta cứ để Trung cộng có mặt trên đảo Quang Hòa, trận hải chiến đã không xẩy ra thì chúng ta vẫn có thể tiếp tục hiện-diện trên đảo Hoàng Sa, tuy nhiên có thể phải trải thêm quân trên các đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc và Duy Mộng, để tránh sự lấn chiếm, cộng thêm là Hải quân Việt Nam phải thường xuyên tuần tiễu với một hải đoàn tương đối mạnh.” [4]   

Ngoài ra HQ Đại úy Đào Dân trong bài viết “HQ 16 và trận hải chiến Hoàng Sa” cũng có nhận xét tương tự: “… sau ngày họp thượng đỉnh với Tổng Thống Nixon tại Bắc Kinh. Trung Cộng bắt đầu có tham vọng bành trướng thế lực ở biển Ðông. Việc chiếm đóng hai đảo Duy Mộng và Quang Hòa đã chứng minh điều đó. Tuy nhiên Trung Cộng không muốn dùng võ lực để giải quyết tranh chấp vì e ngại Mỹ, nên dùng chính sách tầm ăn dâu, nghĩa là điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa. Nghĩa là những đảo nào không có ai chiếm cứ, Trung Công sẽ đến thiết lập các căn cứ, và mọi chuyện sẽ trở thành chuyện đã rồi. Do đó, nếu sau khi đuổi 2 tàu đánh cá Trung Cộng đi khỏi 2 đảo Robert và Money, Việt Nam Cộng Hòa cứ cho quân đội ra xây dựng trên đó, giữ đảo, dùng ngoại giao để công kích, thì tuy không lấy lại được 2 đảo Duy Mộng và Quang Hòa, cũng không mất luôn 3 đảo lớn nhất vùng là Pattle, Robert, Money, và vĩnh viễn Hoàng Sa không bao giờ trở lại chủ quyền Việt Nam.”           

Về mặt chiến thuật, Tư lệnh HQ đưa ra kết luận thật chính xác về phía VNCH: “cuộc hải chiến giữa ta và Trung Cộng. Theo tôi nghĩ, chỉ là một cuộc “tao ngộ chiến”, đụng chạm nhau trên đường tuần tiễu bảo vệ hải phận quốc gia chớ chưa phải là một trận chiến có tổ chức, bởi vì chúng ta chưa nghiên cứu chính xác về địch tình, thiếu tin tức tình báo, thiếu không thám, thiếu không trợ, thiếu trận liệt.” [4]


Và như ĐĐ Thoại đã trả lời:  
•“tôi chỉ biết chúng ta phải làm đủ thủ tục theo lịnh của Tổng Thống và Tổng Tư Lịnh Tối Cao Quân Đội tức là có một hành động cụ thể chứng minh chủ quyền của các đảo mà thôi. Tôi không nghĩ là TT Thiệu có ý ra lịnh Hải Quân phải tiêu diệt lực lượng Trung Quốc hoặc bằng mọi giá giữ cho được các hải đảo.” ([51] trang 353)                    
•“Không có cách gì chúng tôi có thể thắng. Chúng tôi phải đổ bộ và chúng tôi phải có người bị giết.

Không có gì chúng tôi có thể làm bây giờ. Làm thế nào chúng tôi có thể biện minh trước công chúng nếu họ đến và chiếm đảo mà chúng tôi không nói gì.” [32]

 

Tóm lại trong biến cố HS, Hải quân VNCH đã đơn độc thừa hành nhiệm vụ tác chiến và chỉ huy. Quyết định của các cấp chỉ huy Hải quân chỉ có tính cách chiến thuật đối phó với diễn tiến theo từng giai đoạn.           
Nh
ư thế làm sao có thể đương cự lại với cả một sách lược do chính các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Trung Cộng chỉ đạo và giám sát cuộc hành quân cưỡng chiếm Hoàng Sa. [5]


N
ếu chỉ vì dựa vào lý do quá đơn giản là nổ súng để chứng minh chủ quyền của các đảo, thì đã rơi vào bẫy của TC để rồi từ đó mất trọn cả quần đảo Hoàng Sa.


3.- Không quan tâm đến lời cảnh báo của Hoa Kỳ.

“Biết người, biết ta trăm trận trăm thắng.” Trong biến cố HS rõ ràng là địch biết ta, ngược lại ta không biết chút gì về địch và không quan tâm đến lời cảnh báo của HK.

Như đã trình bày ở phần trên, trước khi thi hành kế hoạch, TC đã hoàn toàn an tâm là HK sẽ đứng ngoài cuộc xung đột.


Có rất nhiều bài viết đổ lỗi là HK đã phản bội VNCH bằng cách thỏa thuận ngầm để bán đứng HS cho TC và có bài viết đã cho là “Mỹ tìm cách đưa HQ 16 ra Hoàng Sa để tạo nên trận hải chiến” (Huy Phương, báo Người Việt Thứ hai 16 tháng 01/2012) qua việc dàn dựng đưa nhân viên DAO Gerald Kosh ra Hoàng Sa, nhưng qua các tài liệu mật đã tìm được, không có bằng chứng rõ rệt để kết tội HK.      

Hơn 10 năm về trước, vị Hạm trưởng đã chỉ huy chiến hạm HQ 16 trực tiếp tham dự trận hải chiến là HQ Trung tá Lê văn Thự  đã có nhận xét thật xác thực: “chẳng có gì chứng  tỏ được Hoa Kỳ ngầm thỏa thuận cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Ngược lại, theo nhận xét của tôi, khi dự trận chiến Hoàng Sa, tôi thấy Trung Cộng rất dè dặt trong việc xâm chiếm Hoàng Sa. Trước sau họ chỉ đưa ra vỏn vẹn có ba chiến hạm không thuộc loại tối tân, có thể vì họ ngần ngại có sự can thiệp của Hoa Kỳ. Họ không đưa ra một lực lượng hùng hậu để đánh chiếm Hoàng Sa vì họ sợ nếu Hoa Kỳ phản  ứng thì sẽ thành lớn chuyện khó xử. Ngoài ra họ còn sợ dư luận thế giới nữa.” [33]


Hiệp ước Paris 1973, chấm dứt sự can thiệp trực tiếp về quân sự của HK và lập trường không can dự vào những cuộc tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo đã là động lực khiến HK đưa đến quyết định là: “… dù trong bất cứ trường hợp nào quân đội Hoa Kỳ sẽ không can dự vào.” nếu cuộc chiến bùng nổ giữa VNCH và TC.

Ngày 17/01, trước tình trạng leo thang có nguy cơ dẫn đến xung đột bằng vũ lực (qua việc HQVN tăng cường HQ 4 và TC gởi 2 chiếc Kronstadt đến nhóm Nguyệt Thiềm), Đại sứ Martin đã gặp và trình bày với NT Vương Văn Bắc về lập trường của HK, không được rõ NT Bắc có báo cáo sự việc này lên Thủ tướng hoặc Tổng thống? Hay là có thể chính ông cũng không thể tin là HK sẽ dửng dưng đứng ngoài, vì vậy ông không thấy cần phải trình lên thượng cấp?? (Nhật báo Chính Luận có loan tin này [57]).          
Trong cùng ngày phát ngôn viên BNG/HK tuyên bố là HK không có chủ quyền trên các hải đảo và không dính líu vào các vụ tranh chấp. Mục đích của HK là mong muốn phía VNCH cố gắng làm dịu tình hình và tránh các hành động có thể đưa đến sự xung đột có vũ trang.           
NT Vương Văn Bắc cũng có nhận xét tương tự: “Hoa Kỳ không muốn can thiệp vào vụ nầy, không muốn đứng hẳn vào một bên để chống lại bên kia.”

 

Về phía HK họ cũng không ngờ trận hải chiến sẽ xảy ra, vì vậy mặc dù vào lúc 0850H [4] các chiến hạm HQVN  đã nhận  được lịnh tác xạ vào  đảo trong lúc triệt thoái toán Hải kích và Biệt hải về tàu nhưng không giao chiến với tàu TC (VNN ships were ordered to shell island while extracting troops, but not to engage the PRC ships), HK vẫn chưa có phản ứng [54].


Chỉ đến khi các chiến hạm nhận lịnh chuẩn bị khai hỏa vào chiến hạm địch, bấy giờ Tư lệnh Đệ thất Hạm đội HK mới gởi công điện thượng khẩn vào lúc 0950H ra lệnh cho tất cả các đơn vị trực thuộc tránh xa khu vực HS và tránh các hành  động có thể được xem như là tham gia hay hỗ trợ cho VNCH [58]. (trận hải chiến khởi sự vào lúc 10:25H)

 

Trong điện thư gởi về Tướng Brent Scowcroft ngày 21/01 sau khi TC đã chiếm HS, Đại sứ Martin lấy làm tiếc là phải chi TT Thiệu có mặt ở Sài Gòn ông sẽ đề nghị giải pháp thích nghi hơn [12] và ông cũng cho là HS đã mất thì không làm cách gì để TC trả lại và HK đã từ chối một cách miễn cưỡng việc tìm kiếm những người sống sót [26].


Tiếp theo, ngày 21/01 trong điện thư báo cáo về BNG/HK diễn tiến đưa đến trận hải chiến, Đại sứ Martin trình bày: “… Tôi hoàn toàn chắc chắn là hành động như vậy sẽ không thể nào xảy ra nếu không có sự chấp thuận của chính Tổng thống Thiệu, người đã hiện diện tại Đà Nẵng vào thời điểm đó, mặc dù chúng ta có thể cho là, theo ý kiến của của tôi, hành động này là vụng về …”   


Và sau khi phân tích nguyên nhân đưa đến trận hải chiến, Đại sứ Martin nhận xét: “… Đây là hành động được xem như là phản ứng đối với sự hiện diện của lực lượng Trung Quốc trên lãnh thổ mà trong gần 200 năm rõ ràng được coi là thuộc về người Việt Nam.

Nhất định Trung Cộng sẽ tuyên bố cho là Chính phủ Việt Nam đã gây ra các cuộc đụng độ, nhưng qua các văn kiện không xác nhận là Chính phủ Việt Nam đã có bất cứ ý định nào mang quân ra quần đảo HS hoặc dùng những phương cách khác đe dọa Trung Quốc.” [59]       

Ngoại trưởng Kissinger trong cuộc họp báo ngày 23/01 từ chối đứng về phe nào trong cuộc tranh chấp ở quần đảo HS và HK “lấy làm tiếc việc dùng lực lượng quân sự để giải quyết vấn đề.” [60]


Vì vậy, ngoài việc không ước định được mưu đồ của địch và không tập trung vào việc nghiên cứu các biện pháp đối phó với TC, các giới chức VNCH cũng đã bỏ lỡ cơ hội tiếp xúc với Đại sứ Martin để cố gắng tìm hiểu thêm về khả năng HK có thể giúp được **** vì từ ngày 17/01 cho đến ngày 19/01 không thấy đá động đến những lần tiếp xúc tiếp theo giữa HK và VNCH.


Như đã dẫn chứng ở phần trên, chủ đích ưu tiên của TC là áp dụng kế hoạch thứ 1, có nghĩa là chiếm đoạt HS một cách êm thắm. Và nếu cho là HK âm mưu với TC, thì cần gì HK phải dựng đứng lên chuyện đưa Gerald Kosh ra HS.      
S
ự
thật hiển nhiên là TC hầu như hoàn tất kế hoạch này nếu không có chuyến công tác đặc biệt của HQ 16 ra HS tình cờ phát hiện chúng.

Có thể nói đây là cơ may của chúng ta, vì nếu như lúc bấy giờ các cấp lãnh đạo VNCH có những buổi họp thảo luận một cách sâu rộng để chọn ra đường lối ứng xử hợp lý cho từng giai đoạn, thì có lẽ chúng ta chỉ mất hai đảo Quang Hòa và Duy Mộng mà thôi.   
Và ngay trong thời điểm này, nếu nhìn lại vấn đề, khi chúng ta nhận thức được là những lời khuyến cáo về phía HK có thể giúp chúng ta còn giữ lại một phần nào quần đảo HS, thì cũng đã quá muộn màng.

 

Trong khi giặc thù phương Bắc đưa lực lượng quân sự xâm nhập quần đảo HS, đồng minh HK nhất quyết không can dự, Tổng thống không có mặt ở thủ đô, thì trong khoảng thời gian này tại Sài Gòn dự luật sửa đổi hiến pháp để cho Tổng thống Thiệu và các vị Tổng thống kế nhiệm được quyền ra tranh cử nhiệm kỳ thứ ba và nhiệm kỳ Tổng thống sẽ được kéo dài 5 năm thay vì 4 năm [48]do phe thân hành pháp soạn thảo và bảo trợ được đưa ra thảo luận vào ngày 15/01, cùng ngày HQ 16 phát hiện tàu TC xâm nhập nhóm Nguyệt Thiềm. (dự luật này do Phụ tá Đặc biệt Tổng thống Nguyễn Văn Ngân soạn thảo với sự ủng hộ của Chủ tịch Thượng viện Trần Văn Lắm và Chủ tịch Hạ nghị viện Nguyễn Bá Cẩn) [61]

 

Và ngay trong ngày 19/01, giữa lúc đang xảy ra trận hải chiến và tiếp theo là quyết định rút lui của Đại tá Ngạc, bỏ lại HQ 10 làm bia cho tàu TC …thì ngay tại Sài Gòn lưỡng viện quốc hội đang tranh cãi và sau đó đã thông qua dự luật này!

         Có phải chăng tham vọng cá nhân và quyền lợi đảng phái đã chi phối hoạt động của các cấp lãnh đạo VNCH, khiến họ không quan tâm mấy đến tình hình HS, ngay cả trong lúc giặc đến nhà cũng không thấy Tổng thống hoặc Thủ tướng lên tiếng ngỏ lời tường trình sự việc cùng khích động lòng yêu nước của dân quân. Sau khi HS mất vào tay TC cũng chẳng một lời giải thích lý do hoặc loan báo các phương thức hành động sắp đến, và khi chiến hạm đã chiến đấu sống còn với giặc thù Trung Cộng về đến Sài Gòn cũng không thấy giới chức cao cấp nào ra tiếp đón.
 

Và cũng thật khó hiểu khi vào ngày 22/01, trong thông điệp gởi đến toàn dân nhân dịp tết Nguyên Đán, Tổng thống Thiệu đã không có một lời nào đề cập đến trận hải chiến và cũng không lên tiếng tố cáo TC đã dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của VNCH. Trong khi đó ông lại nói về đạo luật bầu cử mà quốc hội đã thông qua vào ngày 19/01/1974 !!!! [62]    

Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu ngày 14 tháng 3-1974, phát biểu trước Thượng nghị viện:     
“Sự yên lặng của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu trong bản thông điệp ngày 23-1-1974, nghĩa là 4 ngày sau khi xảy ra sự xâm lăng quần đảo Hoàng sa, chỉ chứng tỏ rằng Hành pháp chưa tìm ra đường lối rõ rệt để trình bày vấn đề này trước quốc dân.”   
(trích từ ‘Công Báo Việt Nam Cộng Hòa ngày 2 tháng giêng 1975’)          


Theo như lời Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ-Thoại: “Thành ra nhiệm vụ chính là làm sao cho miền Nam không bị tràn ngập hơn là những các hải đảo ngoài khơi cần phải có lực lượng để chiếm đóng.” [52]

Và tiếp theo trong lần phỏng vấn khác: “Nhiệm  vụ của Hải quân lúc  đó nhằm vào việc chống xâm nhập của tàu thuyền từ miền Bắc  để đưa quân và vũ khí vào Nam hơn là bảo vệ chống sự tấn công của một quốc gia khác  để xâm chiếm lãnh thổ của ta.” [51]     

Có lẽ giới lãnh đạo miền Nam đã ngủ quên khi không nhận thức ra rằng “quốc gia khác” ở đây chính là kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng chỉ ở cách ta không đầy 75 km (từ đảo Phú Lâm đến đảo Duy Mộng).

Đưa ra lập luận này để biện minh cho việc mất Hoàng Sa vào tay Trung Cộng cũng không khác chi lắm với lời phát biểu của Nghị sĩ và đồng thời là chủ nhiệm nhật báo Chính luận Đặng Văn Sung khi ông cho

là: “mất Hoàng Sa không giống như mất Huế.” [63]

Như vậy đã cho thấy một điều hiển nhiên là chánh quyền VNCH đã coi nhẹ việc phòng thủ Hoàng Sa hơn là lãnh thổ nội địa.     
  

                      Thật  đau lòng thay cho tổ quốc Việt Nam khi trong năm 1958, Thủ tướng miền Bắc Phạm Văn  Đồng, qua văn thư đã công nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Cộng  và qua lời giải thích trước quốc dân của cơ quan Tuyên giáo Trung  ương Cộng sản Bắc Việt: “Các đồng chí yên tâm. Hoàng Sa trong tay Quân Giải Phóng Trung quốc anh em của ta là tin đáng mừng. Còn hơn là nằm trong tay bọn Mỹ - Ngụy, kẻ thù không đội trời chung của chúng ta” [64]

                    Trong khi  đó, tại miền Nam, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa qua những năm tháng chểnh mảng  trong việc củng cố và phòng  thủ các hải  đảo thuộc nhóm Nguyệt Thiềm và khi giặc đến nhà  đã không kịp thời nhận thức  được mối hiểm họa cấp bách  để tìm phương cách đối phó hữu hiệu, mang  đến hậu quả là kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng đã chiếm trọn vẹn quần đảo Hoàng Sa kể từ ngày 20 tháng 1 năm 1974. 
_______________________________________________________________________________________________________________________    

PHẦN DẪN CHỨNG

a.- Xác định ngày, giờ HQ 16 rời Đà Nẵng  

- Sau 4-1975: vì dựa vào ký ức nên trong hai quyển sách tham khảo [38] [48] và trong hầu hết các bài viết về hải chiến HS đều cho là HQ 16 rời Đà Nẵng vào ngày 15/01.

Tuy nhiên, trong tham khảo [4] (không cho biết lấy từ tài liệu nào) đã viết rất chi tiết  “Ngày 14 tháng 1 năm 1974 HQ 16 rời Đà Nẵng đi Hoàng Sa hồi 18:00H” và [49] (dựa theo [4]) cho là “Ngày 14/1/1974 BTL/VIDH gởi HQ 16 đi công tác thăm dò tình hình Hoàng Sa.”

 - Trước 4-1975: “Chiều ngày 15/01/1974, một ghe đánh cá Trung cộng chở người đến cắm cờ và dựng lều lên đảo Cam Tuyền (Robert) thuộc quần đảo Hoàng Sa.” [42]

Về phía TC tài liệu tham khảo [43] đã xác nhận sự hiện diện của HQ 16 trưa ngày 15-1.   
Dẫn chứng [42] [43] xác nhận HQ 16 phát hiện tàu đánh cá TC trưa ngày 15/01 phù hợp tham khảo [41] từ nhật ký hành quân TTHQ/HQ: “ngày 14/01 chiến hạm HQ 16 thuộc HQVN rời Đà Nẵng lúc 17:50H.”

Do vậy, có thể khẳng định là HQ 16 rời Đà Nẵng vào chiều ngày 14/01 lúc 17:50H.

 b.-Xác định ngày, giờ HQ 16 phát hiện tàu đánh cá TC

Hoàn tất công tác đưa toán 7 người lên đảo, HQ 16 trở ra thả trôi gần đảo Cam Tuyền. HQ Đại úy Đào Dân diển tả trong bài viết: “… Tôi nhận quart trưa 1200 - 1500H. Không có việc gì làm, chỉ theo dõi tình trạng trôi của tàu…Bỗng tôi chú ý ở trước mặt đảo Robert, ngang hông chiến hạm, một chiếc tàu đang lửng lơ bên cạnh đảo. Chiếc tàu nhỏ, cỡ bằng những chiếc tàu đánh cá Ðài Loan…Tàu lại sơn màu    
tối, như màu ô-liu, phía đuôi có treo cờ tuy không trông rõ màu sắc… tôi cho lệnh giám lộ viên đánh đèn để hỏi và đồng thời cho nổ máy…và khi tàu đến gần hơn, nền cờ đỏ và 5 ngôi sao vàng ở ngay góc...” [34]

Từ các dẫn chứng trên xác nhận là HQ 16 đã phát hiện tàu đánh cá TC số 402 vào lúc 2 giờ 43 phút trưa ngày 15-1 và đã báo cáo về BTL/V1DH lúc 5 giờ chiều cùng ngày.

(Trong phần trả lời ký giả Tuyết Mai, ĐĐ Thoại cho biết: “… Đêm 16 Tháng 1, trong công tác hải quân thường lệ, tôi được báo cáo có nhiều ngư thuyền lạ và có dấu hiệu của một vài hoạt động trên đảo.” trích trong “Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ-Thoại Nói Về Hải Chiến Hoàng Sa” Việt Báo, 1/12/2008 )

c.- Xác định lệnh và chỉ thị trong hệ thống chỉ huy cao cấp   
• Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: đến BTL/VIDH sáng 16/01, viết thủ bút ra lệnh cho PĐD HVK Thoại TL/VIDH biện pháp đối phó với tàu TC. ĐĐ Thoại cho đánh máy lại và phái SQ mang tay về Sài Gòn trong cùng ngày để trao cho Văn phòng Thủ tướng Trần thiện Khiêm và BTL/HQ [51].

Gặp TL/HQ trong ngày 18-1 tại Đà Lạt, nhưng không có chỉ thị nào cho ông.

Gọi điện thoại vào TTHQ/VIDH sáng ngày 19-1 [33].         
• Thủ tướng Trần Thiện Khiêm: họp Hội đồng Nội các ngày 17/01 (tham khảo [4] và [51] viết chiều ngày 16/01, điều này không hợp lý).         
Không rõ trong buổi họp có ai, nhưng NT Vương Văn Bắc xác nhận là: “Tôi không nhớ có một phiên họp của Nội Các VNCH vào ngày 17 Tháng Giêng 1974 hay không, nếu có thì phiên họp ấy đã đề cập đến những vấn đề gì và đưa ra những quyết định nào liên quan đến vụ Hoàng Sa.”

Phái đoàn HQ có Đề đốc Trần Văn Chơn TL/HQ và HQ Đại tá Đỗ Kiểm với nhiệm vụ Thuyết trình viên. Không có chỉ thị nào cho Hải quân sau buổi thuyết trình.         
•
Đại tướng Cao Văn Viên TTMT/QL/VNCH: đứng ngoài 
• Trung tướng Ngô Quang Trưởng TL/QĐI: đứng ngoài

• Đề đốc Trần Văn Chơn TL/HQ: (xin xem bài Đề đốc Trần Văn Chơn và hải chiến Hoàng Sa)

• Đề đốc Lâm Ngươn Tánh TLP/HQ: nhận chỉ thị của TL/HQ ra Đà Nẵng: “để theo dõi cuộc chiến HS.” Có mặt ở Đà Nẵng vào chiều ngày 19/01 lúc bấy giờ trận hải chiến đã kết thúc. Ông không biết gì về “Lệnh Hành quân Trần Hưng Đạo 47.” [51]   
• Phó Đề đốc Diệp Quang Thủy TMT/HQ: theo HQ Đại tá Đỗ Kiểm trong "Counterpart, A South Vietnamese Naval Officer's War" thì chính ĐĐ Thủy đã ra lịnh khai hoả:

["Well then, give them the order," said the chief of staff, breaking into a big smile.           
"What order, sir?" asked Kiem.         
"Shoot!" said the admiral.”]   
Tài liệu từ TTHQ/BTL/HQ xác nhận là lúc 09:27H, TL Phó/ HQ ra lịnh: “lực lượng đặc nhiệm giữ đầu cầu và sử dụng trọng pháo bắn vào tàu địch. Đây là lệnh các anh phải thi hành.”(trong thời gian này ĐĐ Tánh không có mặt ở Sài Gòn, do vậy ĐĐ Thủy đã được chỉ định Xử lý Thường vụ chức vụ TLP/HQ)
Nhà báo Giao Chỉ trong bài “Lệnh khai hỏa trận Hoàng Sa 34 năm về trước” có viết như sau: “… Bây giờ đại tá Hà văn Ngạc không còn nữa. Người viết chuyện tò mò muốn tìm hiểu đành phải suy nghĩ rằng trước khi nổ súng ông đã gọi Bộ Tư lệnh Hải quân để xin phép trước. Qua đô đốc Diệp quang Thủy ông được lệnh Sài Gòn. Sau đó ông cẩn thận xin lệnh Ðà Nẵng qua đô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và lệnh khai hỏa bắt đầu.”  
• Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ-Thoại TL/VIDH: xem bài “THỦ BÚT TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU TRONG HẢI CHIẾN HOÀNG SA”     
• HQ Đại tá Đỗ Kiểm Tham mưu phó Hành quân BTL/HQ:           

“… Ông Thủ tướng Khiêm lúc bấy giờ không nói gì hết, chỉ nói là sẽ trình lên Tổng thống thôi.” [51] 

Ngoài ra ông viết trong "Counterpart, A South Vietnamese Naval Officer's War": “Vùng I thông báo     BTL/HQ ở Sài Gòn; BTL bắt đầu họp với Tổng Thống Thiệu, Nội Các của Thiệu….”     

NH
ẬN XÉT:       
-
Tổng thống Thiệu lúc bấy giờ đang ở Vùng 1 thăm viếng và ủy lạo các chiến sĩ nhân dịp tết Nguyên Đán làm thế nào có thể họp với Bộ Tư lệnh Hải quân?          
-
Không tìm thấy tài liệu chứng minh đã có
buổi họp NỘI CÁC.  
                                                                       
THAM KHẢO         
- [1] Lt. Commander Ulysses O. Zalamea. “ Eagles and Dragons at Sea” Naval War College Review,       Autumn 1996.  
- [2] Điện văn số 326202 ngày 01/02/1974 của ban thẩm vấn Gerald Kosh gởi cho Tư lệnh Lực lượng HK tại Thái Bình Dương.

            a.- Gerald E. Kosh, viên chức DAO (Defense Attaché Office) thuộc toà Tổng Lãnh sự/HK tại Đà Nẵng. Tháp tùng HQ 16 ra HS và bị TC bắt trong ngày 20/01/1974.

            b.- HQ Trung úy Lê Văn Dũng (K.20/SQHQ/NT) là Sĩ quan chỉ huy toán chiến sĩ cơ hữu 14 người thuộc HQ 4 đã được đưa lên phòng thủ đảo Cam Tuyền.         
- [3] Phiếu trình ngày 21/01/1974 của INR (Intelligence and Research ) thuộc BNG/HK.

- [4] Tuyển tập Hải sử “Hải chiến Hoàng Sa” Tổng hội/ HQHH ấn hành 2004 – USA

- [5] Ang chen Guan. “The South China Sea dispute re-visited” Institute of Defence and Strategic Studies Singapore – August/1999

- [6] Vương Văn Bắc. “Nhớ lại và suy ngẫm về vụ hải chiến Hoàng Sa”, nhật báo Nguời Việt online Saturday, February 21, 2009.

- [7] Điện văn số 028978 ngày 30/01/1974 của Tòa Lãnh sự HK tại Hong Kong gởi BNG/HK.

- [8] Thềm Sơn Hà. “Đại cương về quần đảo Hoàng Sa” đăng trong www.hqvnch.net.

22 tháng 2-1959 TC đưa ngư phủ có võ trang xâm nhập bất hợp pháp đảo Cam tuyền, Quang Hòa và Duy Mộng nhưng đã bị HQ/ VNCH kịp thời ngăn chận và đã bắt giữ 82 ngư phủ TC (Lưu Văn Lợi), (Theo BNG/HK có khoảng 50 người đã bị bắt giữ trong khu vực đảo Quang Hòa),(www.military.cn/html/00/t-38000.html  thì Trợ chiến hạm Nguyễn Văn Trụ HQ 225 đã bắt giữ 5 tàu đánh cá và 69 ngư phủ TC) .      

- [9] Lee Lai-to. “The PRC and the South China Sea” Feb 1977- VOL. XV No. 2. The Vietnam center and archive (www.Vietnam.ttu.edu).

- [10] Bản nghiên cứu mật ngày 20/07/1971 của BNG/HK

- [11] Điện văn số 121269 ngày 16/07/1973 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK

- [12] Điện văn số 0587 ngày 21/01/1974 của Đại sứ Martin gởi Brent Scowcroft (NSC – National           Security Council)

- [13] Intelligent Report 7283 ngày 17/08/1956 của BNG/HK

- [14] Điện văn số 118696 ngày 13/12/1973 của Tòa Tổng Lãnh sự/HK/Hồng Kông gởi BNG/HK.

- [15] Biên bản buổi họp ngày 01/02/1974 tại văn phòng James R. Schlesinger Bộ trưởng BQP/HK.

- [16] Jan Vinar. “The Paracel Islands and Peking”, Deutsche Zeitung, 25 January 1974.

- [17] Thềm Sơn Hà. “Hành quân chiếm đóng đảo Nam Yết tháng 8/1973” đăng trong www.hqvnch.net

- [18] Trần Hữu Châu. “Phúc trình về công tác nghiên cứu phốt phát tại quần đảo Hoàng Sa” Tập san Sử địa số 29 – Sài Gòn 1975.

- [19] Văn thư ngày 30/10/1973 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK.

- [20] Foreign Relations of the United States 1955-1957.

- [21] Foreign relations of the United States- Vol XVIII

- [22] Foreign Relations, 1969-1976

- [23] Điện văn số 034409 ngày 05/121973 của TĐS/HK/Singapore gởi BNG/HK

- [24] Điện văn số 113809 ngày 12/12/1973 của BNG/HK gởi TĐS/HK/Singapore

- [25] Điện văn số 009980 ngày 17/01/1974 của BNG/HK gởi TĐS/HK/SG

- [26] Điện văn số 028302 ngày 20/01/1974 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK/SG

- [26a] Điện văn số 015391 ngày 23/01/1974  từ BNG/HK gởi TĐS/HK/SG

- [27] Điện văn số 093435 ngày 07/02/1974 từ BNG/HK gởi TĐS/SG.

- [28] Trần Thế Đức. "Hoàng Sa qua những nhân chứng." Tập san Sử địa số 29 – Sài Gòn 1975.

- [29] Trần Kim Diệp. "Bên lề trận hải chiến Hoàng Sa." Bản tin Tình Đại dương (khóa 17 Sĩ quan Hải quân Nha Trang) tháng 7/2004. HQ Đại úy Trần  Kim Diệp, Trưởng phòng Tình báo (P2) Bộ Tư lịnh Hải quân Vùng I Duyên hải nhận lệnh TL/HQ/VIDH tháp tùng HQ 16 đi công tác đảo Hoàng Sa. Đại úy Diệp đã có mặt trên HQ 5 trong lúc xảy ra trận hải chiến.

- [30] Thanh Phong. “Bí ẩn trận Hoàng Sa” bài phỏng vấn Thiếu tá Phạm Văn Hồng, nhật báo Viễn Đông, ngày 22/12/2009.

Thiếu tá Phạm Văn Hồng là SQ Lãnh thổ/Phòng 3/BTL/QKI, được chỉ định ra công tác HS cùng 4 SQ và HSQ Công binh với nhiệm vụ nghiên cứu việc thiết lập phi trường trên đảo HS. Ông và toán Công binh bị TC bắt trong ngày 20/1/1974.

- [31] Vietnam.net “Hoàng Sa trong ký ức của những chiến binh”, 18/03/2010.

- [32] Oscar Fitzgerald. “Interview with Commodore Ho Van Ky Thoai, VNN - Naval Historical Center (NHC) 20 September 1975.

- [33] Lê Văn Thự (HQ Trung tá Hạm trưởng HQ 16). "Sự thật về trận hải chiến Hoàng-Sa." Calitoday March 08/2004.

- [34] HQ Đại úy Đào Dân. “HQ 16 và trận hải chiến Hoàng Sa” Nguyệt San Đoàn Kết - Austin, TX

(Khi xảy ra trận hải chiến, ông mang cấp bậc HQ Trung úy)

- [35] Lê Văn Thự (HQ Đại úy Trung tâm trưởng TTHQ/HQ/V1DH). “Trận hải chiến Hoàng Sa và nước mắt của vị Tư Lệnh Hải Quân” www.hqvnch.net.         
* Trong những lần nói chuyện qua điện thoại về Hoàng Sa, HQ Đại úy Lê Văn Thự có kể lại là ông rất đau lòng khi phải nói dối với Đại tá Ngạc là phi cơ đang trên đường bay ra yểm trợ để cho ông an tâm.

- [36] Điện văn số 0585 ngày 20/01/1974 của Đại sứ Martin gởi Brent Scowcroft (NSC - National Security Council)

- [36a] Điện văn số 028302 ngày 20/01/1974 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK

- [36b] Điện văn số 010217 ngày 31/01/1974 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK

- [37] Điện văn số 325606 ngày 01/02/1974 của ban thẩm vấn G. Kosh gởi cho Tư lịnh/LL/HK tại Thái Bình Dương.

Có lẽ vì được thẩm vấn ngay khi về đến căn cứ Không quân Clark (Phi Luật Tân) nên có một số chi tiết Kosh thuật lại không được chính xác, chẳng hạn như HQ 16 rời Đà Nẫng ngày 13/1 và chỉ có một máy khiển dụng. 

- [38] Vũ hữu San & Trần đỗ Cẩm. “Tài liệu Hải Chiến Hoàng Sa” ấn hành 2004-USA.

Đào Dân có đoạn viết về cú húc này như sau: “HQ 4 nổ máy đâm thẳng ngang hông tàu địch, đẩy nó ra khơi, vì vận tốc chậm, có lẽ khoảng 2 máy tiến 1, nên không có thiệt hại nào cho bên địch.” [34]

- [39] Công điện số 288592 ngày 15/01/1974 của DAO/Sài Gòn

Sau khi cơ quan DAO thông báo HQVN là họ không biết rõ trên đảo Cam Tuyền có trọng pháo của TC, giới chức hữu trách HQVN yêu cầu HQ/HK cung cấp phi cơ không thám P3, DAO khuyên HQVN nên yêu cầu phi cơ không thám của Không quân VN.

Không tìm thấy tài liệu chứng tỏ BTL/VIDH có yêu cầu BTL/SĐI/KQ cung cấp phi cơ không thám từ ngày 15/1 cho đến sáng ngày 19/1 trước khi lực lượng Hải kích và Biệt hải đổ bộ lên đảo Quang Hòa.

- [40] Thềm Sơn Hà. “Trung Cộng đổ bộ tấn công quần đảo Hoàng Sa tháng 1/1974” đăng trong  www.hqvnch.net dịch từ tài liệu: "Chinese Amphibious Assaults in the Paracel Archipelago." December 27, 1974 của Bộ Lục quân HK (Department of the US Army).

Tài liệu này do chính tác giả đã tìm được và đã nhờ một người bạn đến tận thư viện Lục quân HK để lấy ra. Gần đây có website phổ biến tài liệu đã được đánh máy lại từ nguyên văn.

- [41] Công điện thượng khẩn số 924 ngày 21/01/1974 của TĐS/SG gởi BNG/HK.

- [42] Tổng cục Chiến tranh Chánh trị/Cục Tâm lý chiến “Thế giới lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa của VNCH” ấn hành 1974

- [43] Thềm Sơn Hà. “Tuyên cáo chính thức của TC về biến cố Hoàng Sa” trong www.hqvnch.net

- [44]  Điện văn số 098104 ngày 26/01/1974  của TĐS/HK/Manilla gởi BNG/HK

- [45] Quốc Tuấn. “Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa liên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo 
Hoàng Sa và Trường Sa” Tập san Sử địa số 29 - Sài-Gòn 1975.


Ngoài ra Đinh Phan Cư “Chủ quyền quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa”, Luận văn tốt nghiệp Học viện   
Quốc gia Hành chánh -1972”, trang 105, viết như sau:         
“Ngày 22 tháng 2 năm 1959…, nhiều ngư phủ tới đánh cá tại vùng Nguyệt Thiềm, đổ bộ lên các đảo

Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa dựng lều trại.  
Chính phủ VNCH liền phái tàu hải quân bỏ neo giữa biển, cấm đánh cá và xâm nhập hải phận Hoàng Sa.          

Sau đó, Việt Nam Cộng Hòa đã áp dụng biện pháp cứng rắn, bắt 80 ngư phủ nói trên đưa về Đà Nẵng… Tuy nhiên dường như trong số các ngư phủ này, không phải tất cả đều dốt nát, một số người biết đọc, biết viết,       
lại biết vẽ bản đồ và đã từng bị Việt Nam bắt giữ hai ba lần rồi.”

- [46] Sơn Hồng Đức “Thử khảo sát về quần đảo Hoàng Sa” Tập san Sử địa số 29 – Sài Gòn 1975.

- [47] Chi-kin Lo. “China's Policy Towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea
Islands” Routledge-September 13, 1989.

- [48] Điện văn số 116390 ngày 16/01/1974 của TĐS/SG gởi BNG/HK.

Tổng thống Thiệu thăm Quân đoàn I ngày 15 và 16/1, Quân đoàn II ngày 17 và 18/01. Sáng ngày 19/01, ông rời Đà Lạt tiếp tục thăm viếng Quân đoàn III.

- [49] Điện văn số 046612 ngày 22/01/1974 của TĐS/SG gởi BNG/HK.

- [50] Hồ Văn Kỳ-Thoại. “Can trường trong chiến bại” USA_5-2007.        
Trả lời câu hỏi trong tham khảo [4], ĐĐ Thoại đã nói về thủ bút của TT Thiệu: “Tài liệu đó nói đại ý chỉ thị tôi sử dụng mọi biện pháp từ khuyến cáo đến vũ lực nếu cần để mời chiến hạm và quân lính ngoại quốc ra khỏi lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam.”

Theo [36] thì ĐĐ Thoại cho SQ mang thủ bút này về BTL/HQ ngày 16/1, nhung theo TL/HQ thì ông đọc lệnh này khi ra Đà Nẵng trưa ngày 19-1, lúc bấy giờ trận hải chiến đã chấm dứt. Ông không tiết lộ nội dung thủ bút.

- [51] Ủy ban Nghiên cứu trận Hải chiến Hoàng Sa. “Hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974”-      TH/HQ&HH/VNCH tháng 9-2010, USA.

- [51a] Đặc san Lướt Sóng. “Quần đảo Hoàng Sa và chủ quyền VNCH” số đặc biệt Chiến thắng Hoàng  Sa, Cục Tâm lý chiến/BTL/HQ ấn hành năm 1974.   

- [52] Trần Nhật Phong. “Khai hỏa để chứng minh chủ quyền” BBC ngày 20/01/2014.      
- [52a] Bộ Quốc phòng HK tài liệu số 21587 ngày 21/01/1974.       
- [52b] Bộ Quốc phòng HK tài liệu số 21599 ngày 22/01/1974

- [53] Thềm Sơn Hà. “Phân tích khả năng của VNCH và TC” trong www.hqvnch.net

- [54] Điện văn số 025483 ngày 19/01/1974 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK          
- [55] Điện văn số 028322 ngày 20/01/1974 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK          
- [56] Điện văn số 026911 ngày 19/01/1974 của BNG/HK gởi TĐS/SG.    
- [57] Điện văn số 026265 ngày 19/01/1974 của TĐS/SG gởi BNG/HK.    
- [58] Công điện ngày 19/01 lúc 09:50H của TL/Đệ thất Hạm đội/HK        
- [59] Điện văn số 924 ngày 21/01/1974 cuả TĐS/HK/SG gởi BNG/HK.   
- [60] Điện văn số 070943 ngày 23/01/1974 của BNG/HK gởi TĐS/HK/SG.         
- [61] Văn thư ngày 10/01/1974 của TĐS/HK/SG phân tích về dự luật Tu chỉnh Hiến pháp.          
- [62] Điện văn số 072480 ngày 24/01/1974 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK          
- [63] Điện văn số 076475 ngày 06/02/1974 của TĐS/HK/SG gởi BNG/HK
- [64] Bùi Tín ‘Lời xin lỗi chân thành, món nợ 35 năm đến hồi phải trả !’ viết riêng cho VOA Thứ Ba, 20   tháng 4-2010)

Chú thích
:

*** Trong tham khảo [51] có một câu hỏi tương tự đã được đặt ra với ĐĐ Thoại, nhưng không được ông giải đáp thỏa đáng. Và cơ may giữ lại các đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm (trừ Đảo Duy Mộng và Quang Hòa) vẫn còn khả thi nếu như TL/HQ không hủy hủy bỏ lệnh chỉ thị HQ 4 và HQ 5 trở lại đảo Hoàng Sa cố thủ (2 chiến hạm này nhận được lệnh vào lúc 14:15H) [4].          
****
Cần viết thêm là mặc dù HK đã thể hiện một cách dứt khoát ý định không can dự, nhưng sau đó vào ngày 22/01/1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn gởi thơ đến Tổng thống HK Nixon để yêu cầu HK “…hết lòng hỗ trợ về vật chất và chánh trị cần thiết” bất chấp lời ngăn cản của Đại sứ Martin. (trích từ “Thư TT Nguyễn Văn Thiệu gởi TT Nixon” trong www.hqvnch.net.        
           

No comments:

Post a Comment